KIẾN THỨC BỔ SUNG CẦN THIẾT KHI HỌC TẬP ĐỊA LÝ 12

3121

 

 

Khi học Địa Lý Việt Nam lớp 12. Chắc rằng các em có nhiều nghi vấn cần giải thích, cũng như nhiều kiến thức trong sách giáo khoa và các câu hỏi cuối của mỗi bài khá chung chung, rất khái quát, khó hiểu – có thể các em khó có thể giải quyết hết. Qua những vấn đề chung như trên việc cung cấp thêm một số kiến thức chuẩn và chi tiết cho các em là điều hết sức cần thiết.

 

Đặc điểm của 3 miền địa lý tự nhiên Việt Nam

 

Tên miền

Miền Bắc và

Đông Bắc Bắc Bộ

Miền Tây Bắc và

Bắc Trung Bộ

Miền Nam Trung Bộ và

Nam Bộ

Phạm vi

Tả ngạn sông Hồng, gồm vùng núi Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ.

Hữu ngạn sông Hồng đến dãy Bạch Mã.

Từ dãy Bạch Mã trở vào Nam.

Đặc điểm chung

-Quan hệ với nền cổ Hoa Nam về cấu trúc địa chất-kiến tạo.

-Tân kiến tạo nâng yếu.

-Gió mùa Đông Bắc xâm nhập mạnh.

-Quan hệ với Vân Nam về cấu trúc địa hình.

-Tân kiến tạo nâng mạnh.

-Gió mùa Đông Bắc giảm sút về phía tây và phía nam.

-Các khối núi cổ, các bề mặt sơn nguyên bóc mòn và các cao nguyên badan.

-Khí hậu cận xích đạo gió mùa.

Địa hình

-Hướng vòng cung của địa hình (4 cánh cung).

-Đồi núi thấp. Độ cao trung bình khoảng 600 m.

-Nhiều địa hình đá vôi.

-Đồng bằng bắc Bộ mở rộng.

-Bờ biển phẳng, nhiều vịnh, đảo, quần đảo.

-Địa hình núi trung bình và cao chiếm ưu thế, dốc mạnh

-Hướng TB-ĐN, nhiều bề mặt sơn nguyên, cao nguyên, đồng bằng giữa núi.

-Đồng bằng thu nhỏ, chuyển tiếp từ đồng bằng châu thổ sang đồng bằng ven biển.

-Nhiều cồn cát, nhiều bãi biển đẹp, nhiều đầm phá.

-Khối núi cổ Kon Tum. Các núi, sơn nguyên, cao nguyên ở cực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

-Hướng vòng cung của các dãy núi.

-Sườn đông dốc mạnh, sườn tây thoải.

-Đông bằng ven biển thu hẹp, đồng bằng Nam Bộ thấp, khá bằng phẳng, mở rộng.

-Đường bờ biển Nam Trung Bộ nhiều vũng vịnh, đảo, thuận lợi cho phát triển hải cảng, du lịch, nghề cá.

Khoáng sản

-Giàu khoáng sản: than, thiếc, sắt, vonfram, chì, bạc, kẽm… vật liệu xây dựng

-Khoáng sản có: thiếc, sắt, apatit, crôm, titan, vật liệu xây dựng

-Dầu khí trữ lượng lớn

-Tây Nguyên giàu bôxit

Khí hậu

-Mùa hạ nóng, mưa nhiều.

-Mùa đông lạnh, ít mưa.

-Khí hậu thời tiết có nhiều biến động.

-Có bão

-Bắc Trung Bộ có gió phơn Tây Nam, bão mạnh, mùa mưa lùi vào tháng VIII, XII,I. Lũ tiểu mãn tháng VI.

-Giá mùa Đông Bắc suy yếu và biến tính. Số tháng lạnh dưới 2 tháng (ở vùng thấp).

-Khí hậu cận xích đạo. Hai mùa mưa, khô rõrệt.

– Mùa mưa ở Nam Bộ và Tây Nguyên từ tháng V đến tháng X, XI, ở đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ từ tháng IX đến tháng XII, lũ có 2 cực đại vào tháng VI và tháng IX.

Sông ngòi

-Mạng lưới sông ngòi dày đặc.

-Hướng TB-ĐN và hướng vòng cung.

-Sông ngòi hướng TB-ĐN; ở Bắc Trung Bộ có hướng tây-đông.

-Sông có độ dốc lớn, nhiều tiềm năng thủy điện.

-Có 3 hệ thống sông: các sông ven biển hướng tây-đông ngắn, dốc (trừ sông Ba); hệ thống sông Mê Công và hệ thống sông Đồng Nai.

Thổ nhưỡng-sinh vật

-Đại cận hiệt đới hạ thấp.

-Trong thành phần rừng có thêm các loài cây cận nhiệt (dẻ,re) và động vật Hoa Nam.

-Có đủ hệ thống đai cao: đai nhiệt đới gió mùa; đai cận nhiệt gió mùa trên núi có đất mùn thô; đai ôn đới trên 2600 m. Rừng còn nhiều ở Nghệ An, Hà Tĩnh.

-Thực vật nhiệt đới, xích đạo chiếm ưu thế (luồng di cư Inđônêsia-Malaysia, họ Dầu).

-Nhiều rừng, thú lớn. Rừng ngập ven biển đặc trưng.

 

Giải thích đặc điểm cơ bản của mỗi miền địa lý tự nhiên Việt Nam

1. Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ:

Có đặc điểm cơ bản là quan hệ với nền cổ Hoa Nam về cấu trúc địa chất-kiến tạo và gió mùa Đông Bắc xâm nhập mạnh.

– Về mối quan hệ khối nền cổ Hoa Nam: một bộ phận của khối nền (khối nâng Việt Bắc) thuộc rìa nền Hoa Nam nên toàn bộ miền này chịu ảnh hưởng của nền này. Hoạt động kiến tạo của miền mang tính chất rìa nền, biểu hiện ở hoạt động địa máng yếu, nâng không mạnh, các dãy núi, thung lũng sông hướng vòng cung (tiếp tục các cánh cung ở Quảng Đông-Trung Quốc), ôm lấy khối nền cổ Hoa Nam. Các khối núi đá vôi ở phía bắc cũng là sự tiếp nối các khối núi đá vôi ở Hoa Nam. Do mang đặc tính của rìa nền nên hoạt động Tân kiến tạo nâng yếu, vì vậy địa hình đồi núi thấp chiếm phần lớn diện tích của miền.

– Vị trí địa lý và địa hình đã làm cho miền này chịu tác động của gió mùa Đông Bắc trực tiếp nhất và mạnh nhất so với toàn quốc.

Hai đặc điểm cơ bản trên thể hiện qua các thành phần tự nhiên: địa hình, địa chất, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật và giữa chúng có sự liên kết, chi phối lẫn nhau.

2. Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.

Có đặc điểm cơ bản là: mối quan hệ với Vân Nam-Trung Quốc về cấu trúc địa hình. Tân kiến tạo nâng mạnh, gió mùa Đông Bắc giảm sút về phía tây và phía nam.

– Về mối quan hệ với Vân Nam-Trung Quốc: các dãy núi xen kẽ các thung lũng sông hẹp ngang kéo dài theo hướng tây bắc-đông nam của vùng núi Tây Bắc và Trường Sơn Bắc là sự tiếp nối các mạch núi Tây Vân Nam-Quý Châu-Trung Quốc, bắt đầu từ dãy Hymalaya lan xuống. Toàn bộ hệ thống núi này phát triển trên miền địa máng cổ. Vùng núi Tây Bắc và Trường Sơn Bắc nước ta thuộc địa máng Đông Dương nên hoạt động kiến tạo của miền Tây Bắc-Bắc Trung Bộ thể hiện đặc tính của miền địa máng với biên độ nâng sụt mạnh, các hoạt động uốn nếp, macma diễn ra mạnh và đặc biệt trong Tân kiến tạo chịu ảnh hưởng của vận động tạo núi Anpơ-Hymalaya, các khối núi cổ được nâng lên mạnh làm cho miền này có địa hình núi cao duy nhất ở nước ta.

– Tác động của gió mùa Đông Bắc đến miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ đã bị giảm sút do bức chắn của dãy núi Hoàng Liên Sơn và do sự suy yếu, biến tính của gió mùa trên đường di chuyển về phía nam.

Từ hai đặc điểm cơ bản trên, có thể rút ra những đặc điểm của các thành phần tự nhiên hiện tại của miền.

3. Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Khác hai miền trên, đặc điểm cơ bản của miền này là có khí hậu cận xích đạo ẩm gió mùa. Tuy cùng thuộc xứ địa máng Đông Dương với miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, nhưng miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ có cấu trúc địa chất-địa hình khác với miền này, biểu hiện ở hướng vòng cung của dãy núi Nam Trung Bộ và địa hình phức tạp với các khối núi cổ, các bề mặt sơn nguyên bóc mòn, các cao nguyên badan, đồng bằng ven biển và đồng bằng Nam Bộ mở rộng. Các đặc điểm trên của địa hình hiện tại trong miền có liên quan với khối nền cổ Inđôxinia và là hệ quả của một miền địa máng hoạt động mạnh, kết thúc sớm, sự nâng mạnh trong Tân kiến tạo của vùng núi đồng thời với sự sụt võng mạnh của vùng ven biển Nam Trung Bộ và vùng trũng Nam Bộ.

Hai đặc điểm cơ bản này biểu hiện ở đặc điểm của các thành phần tự nhiên và cảnh quan hiện tại đã nêu trong bài.

 

Những đặc điểm khái quát của các miền địa lý tự nhiên Việt Nam

 

1. Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ.

Từ vị trí nằm ở khu vực có vĩ độ cao nhất ở nước ta và lịch sử phát triển khá lâu dài, phức tạp của lãnh thổ, có thể khái quát ở miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ có 4 đặc điểm chung là:

– Cấu tạo địa chất mang tính chất của một miền nền.

Phần lớn lãnh thổ của miền là một bộ phận của miền nền cổ Hoa Nam Trung Quốc. Do tính chất của một miền nền nên về mặt kiến tạo địa chất của miền này có tính chất ổn định hơn, ít có những biến động sâu sắc do ảnh hưởng của các vận động tạo núi trong lịch sử phát triển địa chất ở miền miền địa máng thuộc xứ Đông Dương chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ nước ta.

Do chỉ là bộ phận nhỏ, lại nằm ở rìa nền Hoa Nam nên những tác động của hoạt động kiến tạo chỉ biểu hiện rõ nét nhất ở khu vực rìa ngoài thuộc các khối núi đá biến chất sông Lô, sông Chảy, sông Hồng.

– Cấu trúc địa hình có các hướng núi vòng cung, cao ở phía bắc thấp dần về phía nam.

Nét đặc sắc của cấu trúc địa hình của miền là có các dãy núi có hướng vòng cung mở rộng về phía bắc. Phần lớn diện tích của miền là đồng bằng, đồi núi thấp và trung bình. Các khối núi với các đỉnh cao trên 2.000 m (Tây Côn Lĩnh: 2.149 m; Kiều Liêu Ti: 2.402 m; Pu Tha Ca: 2.274 m) đều nằm ở khu vực biên giới phía bắc thuộc tỉnh Hà Giang. Địa hình thấp dần từ phía bắc xuống phía nam.

– Là nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc nhất của gió mùa Đông Bắc.

Do nằm ở vị trí cao nhất, địa thế mở rộng cửa đón gió mùa Đông Bắc trên đường di chuyển qua lãnh thổ Trung Quốc xuống phía nam và địa hình là vùng đồi núi thấp với các dãy núi vòng cung, miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ là nơi chịu ảnh hưởng đầu tiên và tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho gió mùa Đông Bắc dễ dàng xâm nhập sâu vào lãnh thổ nước ta.

Các số liệu về tần suất các đợt frông lạnh tràn qua lãnh thổ miền Bắc nước ta đã nói lên điều đó. Mặt khác, không khí lạnh khi tràn đến miền bắc và Đông Bắc Bắc Bộ mới tiếp xúc với không khí nóng nên chưa bị biến tính đã dẫn đến loại hình thời tiết gió mùa Đông Bắc lạnh và khô. Trong trường hợp có nhiều đợt frông lạnh tràn xuống liên tiếp và bổ sung sẽ dẫn đến tình trạng rét đậm, rét hại nhiều hơn so với các khu vực khác ở miền Bắc nước ta.

– Nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú.

Lịch sử phát triển lâu dài và có nhiều nét đặc sắc của lãnh thổ kết hợp với vị trí địa lý và mối quan hệ với các lãnh thổ lân cận đã khiến cho miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ có nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, có giá trị nhất nước ta.

Nhiều mỏ khoáng sản lớn tập trung ở miền này như than ở Quảng Ninh có tổng trữ lượng ước tính 6,5 tỷ tấn (đã thăm dò được 3,5 tỷ tấn), Thái Nguyên và Bắc Giang (có trữ lượng khoảng 70 triệu tấn); sắt ở Thái Nguyên, Hà Giang, Cao Bằng, Yên Bái với tổng trữ lượng dự báo khoảng 2 tỷ tấn (đã thăm dò 300 triệu tấn); chì và kẽm ở Bắc Cạn (chiếm 80% trữ lượng cả nước); thiếc ở Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang; bôxit ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn; mangan ở Cao Bằng; titan ở Thái Nguyên, Quảng Ninh; vàng ở Hà Giang, Bắc Cạn; bạc ở Lạng Sơn, Quảng Ninh; vonfram ở Cao Bằng, Tuyên Quang; phôtphorit ở Lạng Sơn, Hà Giang; sét xi măng ở Quảng Ninh, Hải Dương, Thái Nguyên, Lạng Sơn; kaolin ở Quảng Ninh, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh; cát thủy tinh ở Quảng Ninh; khí đốt ở vùng trũng Hà Nội và bể sông Hồng; nước khoáng ở Tuyên Quang, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Ninh Bình.

Tài nguyên sinh học của miền cũng rất phong phú và đặc sắc với khu hệ thực vật Việt Bắc-Hoa Nam, có tới 50% thành phần là yếu tố bản địa đặc hữu với các hệ sinh thái tiêu biểu ở vùng núi, vùng cửa sông và vùng biển còn được lưu giữ, bảo tồn tại các vườn quốc gia Ba Bể, Ba Vì, Cát Bà, Bái Tử Long.

Tài nguyên đất cũng rất phong phú với nhiều loại đất khác nhau mà tiêu biểu là đất phù sa màu mỡ của đồng bằng châu thổ sông Hồng.

2. Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.

– Là miền có hoạt động địa máng mạnh nhất ở Việt Nam và được nâng mạnh trong vận động Tân kiến tạo.

Nằm trong xứ địa máng Đông Dương, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ là miền uốn nếp Tây Việt Nam, đầu mút đông nam của dải uốn nếp lớn Têtit. Vì vậy, nét đặc trưng cơ của miền về mặt kiến tạo của miền về mặt kiến tạo là miền có hoạt động địa máng mạnh nhất ở Việt Nam. Các cấu trúc cổ dạng dải của các phức nếp lồi, lõm xen kẽ chạy song song theo hướng tây bắc-đông nam thuộc địa máng tây bắc và Trường Sơn Bắc, được bảo tồn và nâng lên mạnh trong Tân kiến tạo. Kết quả vận động này là đã tạo nên các dãy núi cao đồ sộ ở khu vực Tây Bắc và được tiếp nối bởi các dãy núi có cùng hướng ở Trường Sơn Bắc để làm thành một mạch núi thống nhất tây bắc-đông nam, hướng cấu trúc chủ yếu của địa hình Việt Nam nổi bật trên bản đồ Đông Nam Á.

Các mạch núi theo hướng nghiêng chung thấp dần về phía biển, đồng thời thung lũng sông mở rộng dần làm thành các đồng bằng. Càng về phía nam, các đồng bằng ven biển càng thu hẹp dần cùng với địa hình đảo nghiêng ăn ra sát biển của dãy núi Trường Sơn Bắc.

– Địa hình có cấu trúc hướng tây bắc-đông nam và tính chất già trẻ lại.

Nét cấu trúc về địa hình không chỉ thể hiện ở hướng tây bắc-đông nam mà còn ở tính chất già trẻ lại của núi non. Sông ngòi trong miền, được biểu hiện rõ rệt hơn hết so với mọi nơi khác trên lãnh thổ đất nước. Tính chất già trẻ lại của địa hình thể hiện ở sự tương phản giữa địa hình núi và các cao nguyên cao với các thung lũng sâu, dốc, nước chảy xiết, lòng sông hẹp, lắm thác gềnh. Bề mặt địa hình bị chia cắt mạnh, quá trình bào mòn-xâm thực diễn ra mạnh mẽ cũng là đặc điểm địa mạo nổi bật của miền.

– Anh hưởng của gió mùa Đông Bắc đã giảm sút và biến tính mạnh.

Đặc trưng cơ bản của miền về mặt khí hậu là sự giảm sút ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc biến tính về phía tây và phía nam. Dãy núi Hoàng Liên Sơn đồ sộ chạy dọc phần đông của miền ngăn cản sự xâm nhập trực tiếp của gió mùa Đông Bắc vào khu vực Tây Bắc, làm cho mùa đông Tây Bắc hanh khô hơn vì hầu như không có mưa phùn. Nếu so trên cùng vĩ độ và độ cao thì tại khu vực Tây Bắc nhiệt độ trung bình năm cao hơn khu vực Đông Bắc từ 2-3ºC. Sự suy yếu và biến tính dần của gió mùa Đông Bắc khi di chuyển xuống phía nam cùng với sự tăng lượng bức xạ của Mặt Trời đã làm tăng dần nhiệt độ trung bình năm, giảm dần biên độ nhiệt năm và rút ngắn tháng có mùa đông lạnh.

Từ đèo Ngang 18ºB trở vào không còn tháng lạnh dưới 18ºC, vượt qua đèo Hải Vân không còn thời tiết lạnh dưới 10ºC. Các dãy núi sắp xếp song song và thấp dần theo hướng tây bắc-đông nam lại tạo điều kiện cho gió mùa Đông Nam mang khối khí ẩm từ biển Đông theo các thung lũng sông lùa sâu vào nội địa làm giảm độ lục địa cho phần rìa cực tây của miền. Mặt khác, các dãy núi này lại gây hiệu ứng “phơn” đối với gió mùa Tây Nam tạo nên hoạt động gió tây khô nóng (còn gọi là gió Lào) ở đồng bằng ven biển và ở phần nam của khu vực Tây Bắc. Ngoài ra, quan hệ giữa cấu trúc sơn văn và hoàn lưu gió mùa đã tạo nên những sắc thái riêng về sự phân hóa mưa trong miền với mùa mưa đến sớm và rút ngắn ở khu vực Tây Bắc, mưa muộn và kéo dài ở ven biển Trung Bộ.

– Có sự hội tụ của nhiều luồng di cư sinh vật, đặc biệt là luồng di cư Hymalaya-Vân Quý.

Mối liên hệ mật thiết về cấu trúc địa chất, địa hình của miền với Tây Vân Nam và các lãnh thổ phía tây đã tạo điều kiện cho sự xâm nhập các luồng di cư sinh vật Hymalaya -Vân Quý từ tây bắc xuống và luồng An Độ – Mianma từ phía tây nam lại. Việc tăng dần tính chất nhiệt đới về phía nam tạo điều kiện cho sự đi lên của luồng di cư sinh vật phương nam Malaysia – Inđônêsia. Thành phần thực vật phương nam chiếm ưu thế trong thành phần rừng tại khu vực Trường Sơn Bắc với ranh giới phía Bắc tới sông Chu (20ºB) và còn có thể vượt lên vĩ độ cao hơn tới phần nam của khu vực Tây Bắc.

Các đặc điểm chung đó của miền thể hiện mối liên hệ quy định lẫn nhau giữa các thành phần tự nhiên.

Bên cạnh sự thống nhất trên những nét lớn về cấu trúc địa hình, địa chất, về thủy văn, khí hậu và thành phần sinh vật, miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ còn có sự phân hóa tự nhiên rất đa dạng, tuy nhiên vẫn phản ánh mối quan hệ tương phản và phù hợp về mặt phát sinh giữa các cảnh quan vùng núi, vùng đồng bằng và vùng ven biển. Do vậy, trong việc khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên, các vùng trong miền cần đặc biệt chú ý mối quan hệ thống nhất này.

3. Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Từ phía nam của Bạch Mã-Hải Vân, thiên nhiên đã chuyển sang đới rừng gió mùa cận xích đạo. Nền nhiệt độ quanh năm cao, không còn thời tiết lạnh dưới 10ºC gây hại cho sinh vật nhiệt đới. Tổng nhiệt độ năm đạt trên 9.000ºC, vượt chuẩn khí hậu cận xích đạo. Biên độ nhiệt năm so với hai miền phía bắc thu hẹp lại, chỉ còn dưới 9ºC và càng vào nam càng rút ngắn hơn. Từ phía nam Nha Trang (12ºB) tính chất điều hòa thể hiện rõ, biên độ nhiệt năm là 5ºC và ở Cà Mau chỉ còn dưới 3ºC. Mặt khác, mùa khô trong miền lại gay gắt và kéo dài. Từ Bình Định (khoảng 14ºB) trở vào, lượng mưa không điều hòa trong năm là một trở ngại cho sự phát triển của thực bì xích đạo ưa ẩm. Trong chế độ mưa xuất hiện hai cực đại và hai cực tiểu phù hợp với hai lần Mặt Trời đi qua thiên đỉnh.

Về lịch sử tự nhiên, đây là phạm vi của địa khối Kon Tum, bộ phận khiên của địa khối Inđôxini rộng lớn trong lòng địa máng Đông Dương, hoạt động khác với khu vực địa máng Việt-Lào ở miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. Hoạt động địa máng rìa phía nam khiên Kon Tum kết thúc sớm vào Cacbon hạ, trong vận động Hecxini. Trong miền rất nhiều nham biến chất, nham granit xâm nhập và nham phun trào riolit, đaxit, còn đá vôi thì tương đối hiếm.

Đặc điểm Tân kiến tạo của miền cũng khác. Vào đầu kỷ Đệ Tứ, địa khối cổ Kon Tum được nâng lên mạnh và xuất hiện nhiều đứt gãy, nhiều đợt phun trào macma mạnh mẽ. Khu vực bắc Kon Tum và Lâm Đồng được nâng lên khá cao tạo nên địa hình có nhiều đỉnh cao trên 2.000 m như Ngọc Linh (2.598 m), Chư Yang Sin (2.405 m), Lang Biang (2.163 m).

Tân kiến tạo còn phát sinh nhiều đứt gãy hướng tây bắc-đông nam làm sụt võng phần tây nam của nền cổ, tạo điều kiện hình thành châu thổ sông Cửu Long, đồng thời lại phun trào badan trên một diện tích rộng, tạo nên một dải cao nguyên nối tiếp nhau từ Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk tới Lâm Đồng.

Địa hình miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ có nhiều nét khác biệt với hai miền phía Bắc. Địa hình miền núi nổi bật là các sơn nguyên bóc mòn và cao nguyên badan, còn các núi chủ yếu có dạng vòm khối tảng, rất ít địa hình cácxtơ.

Địa hình đồng bằng rất rộng lớn, chỉ tính riêng châu thổ sông Cửu Long đã là 4 triệu ha, gấp 2,5 lần đồng bằng sông Hồng. Ngược lại, dải đồng bằng bằng ven biển từ Đà Nẵng-Quảng Nam trở vào lại nhỏ, hẹp và bị chia cắt bởi đồi núi, vũng vịnh, đầm phá.

Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ có tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng. Các tài nguyên nổi bật là dầu mỏ, khí đốt ở thềm lục địa, quặng bôxit latêrit ở Tây Nguyên; đất phù sa châu thổ sông Cửu Long, đất đỏ badan, đất xám phù sa cổ ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; khả năng đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, hải sản dọc bờ biển và trên các sông suối, kênh rạch. Được thiên nhiên ưu đãi và đang được đầu tư đúng hướng, miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ sẽ trở thành một miền kinh tế năng động có tốc độ phát triển nhanh nhất của nước ta.

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản miền cũng gặp phải nhiều khó khăn. Đất mặn, đất phèn, đất than bùn chiếm diện tích lớn ở đồng bằng, đất cát nghèo bị sa mạc hóa ven biển Nam Trung Bộ ngày càng mở rộng. Bão, lụt, hạn hán, cháy rừng luôn luôn rình rập và gây hậu quả nghiêm trọng. Đó là những vấn đề khó khăn, trở ngại không nhỏ mà chúng ta phải hết sức đề phòng và khắc phục cho được.

(Theo Địa lý Việt Nam-phần khu vực-Đặng Duy Lợi (chủ biên), Nguyễn Kim Chương, Đặng Văn Hương, Nguyễn Thục Nhu, nxb ĐHSP Hà Nội, 2006).

 

KIẾN THỨC TRỌNG TÂM CỦA ĐẶC ĐIỂM CHUNG

CỦA TỰ NHIÊN VIỆT NAM

1. ĐẤT NƯỚC NHIỀU ĐỒI NÚI

1. Địa hình Việt Nam có 4 đặc điểm: địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp; cấu trúc địa hình nước ta khá đa dạng; địa hình vùng nhiệt đới ẩm gió mùa; địa hình chịu tác động mạnh mẽ của con người.

2. Địa hình đồi núi chiếm 3/4 diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp.

3. Hướng tây bắc-đông nam (Tây Bắc và Trường Sơn Bắc) và hướng vòng cung (Đông Bắc và Trường Sơn Nam) là hướng chính của địa hình.

4. Địa hình phân hóa đa dạng và phân chia thành các khu vực:

– Khu vực núi (dựa trên sự khác biệt về độ cao và hướng sắp xếp các mạch núi, thung lũng sông và là hệ quả của lịch sử phát triển kiến tạo khác nhau giữa các vùng): Đông Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam.

– Địa hình bán bình nguyên và đồi trung du phân bố tập trung ở Đông Nam Bộ và rìa châu thổ Bắc Bộ.

5. Đặc điểm địa hình đồng bằng châu thổ sông. Những điểm giống nhau và khác nhau giữa đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Đặc điểm hình thái và tính chất đất của dải đồng bằng ven biển miền Trung.

6. Thế mạnh và hạn chế của thiên nhiên khu vực đồi núi đến sự phát triển kinh tế xã hội: thế mạnh về tài nguyên khoáng sản, rừng, đất trồng cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc, thủy năng và du lịch. Các mặt hạn chế cũng rất lớn như xói mòn, trượt lở đất, lũ lụt, trở ngại về giao thông và phát triển kinh tế.

7. Thiên nhiên khu vực đồng bằng: thuận lợi về phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới đa dạng nông sản; khai thác tài nguyên thủy sản, khoáng sản, lâm sản; là nơi tập trung các thành phố, khu công nghiệp, đô thị, quần cư. Mặt hạn chế: nhiều thiên tai như bão lụt, hạn hán.

 

2. THIÊN NHIÊN CHỊU ẢNH HƯỞNG SÂU SẮC CỦA BIỂN

1. Vùng biển rộng lớn, tương đối kín, nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa là những đặc điểm cơ bản của Biển Đông có ảnh hưởng đến thiên nhiên nước ta.

2. Giữa địa hình ven biển, đường bờ biển và thềm lục địa có mối quan hệ chặt chẽ thể hiện sự phù hợp về mặt hình thái. Đó là hệ quả của sự thống nhất về mặt phát sinh và các quá trình địa lý hiện tại giữa các dạng địa hình.

3. Anh hưởng của Biển Đông thể hiện rõ nhất và trực tiếp nhất đến tính chất khí hậu mang tính hải dương điều hòa, sự thành tạo các dạng địa hình ven biển, các hệ sinh thái ven biển. Tài nguyên Biển Đông và thiên tai ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế-xã hội nước ta. Do vậy, vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên biển, bảo vệ vùng ven biển và phòng tránh thiên tai là những vấn đề hệ trọng trong khai thác, phát triển kinh tế biển của nước ta.

 

3. THIÊN NHIÊN NHIỆT ĐỚI ẨM GIÓ MÙA

1. Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa là đặc điểm cơ bản nhất của thiên nhiên nước ta. Đặc điểm này được qui định bởi vị trí địa lý của đất nước. Về vĩ độ, nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến; về kinh độ, nước ta thuộc khu vực gió mùa châu Á và tiếp giáp với Biển Đông nóng ẩm.

2. Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của thiên nhiên Việt Nam biểu hiện trước hết ở thành phần khí hậu. Sau đó, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa chi phối đến các thành phần khác của tự nhiên và cảnh quan thiên nhiên.

3. Biểu hiện của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa là: nền nhiệt độ cao, lượng mưa, ẩm lớn và hoạt động của gió mùa.

4. Những biểu hiện của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa qua các thành phần tự nhiên: địa hình, sông ngòi, đất và sinh vật:

Địa hình: quá trình xâm thực, rửa trôi đất mạnh ở miền đồi núi, bồi tụ nhanh ở vùng châu thổ hạ lưu sông. Quá trình xâm thực, bồi tụ là những quá trình địa mạo chủ yếu trong sự biến đổi địa hình Việt Nam hiện tại. Sông ngòi: dày đặc, nhiều nước, giàu phù sa, chế độ nước theo mùa. Thổ nhưỡng: đặc trưng bởi quá trình feralit là quá trình hình thành đất chủ yếu và là loại đất chính ở nước ta. Sinh vật: tiêu biểu là hệ sinh thái rừng rậm nhiệt đới lá rộng thường xanh với thành phần động, thực vật chiếm ưu thế. Cảnh quan thiên nhiên tiêu biểu là cảnh quan rừng nhiệt đới ẩm gió mùa phát triển trên đất feralit.

6. Anh hưởng của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa đến hoạt động sản xuất và đời sống: các mặt thuận lợi và hạn chế, nhất là đối với sản xuất nông nghiệp.

4. THIÊN NHIÊN PHÂN HÓA ĐA DẠNG

1. Sự tăng lượng bức xạ mặt trời đồng thời với sự giảm sút ảnh hưởng của khối khí lạnh về phía Nam là nguyên nhân tạo nên sự phân hóa khí hậu theo Bắc-Nam mà ranh giới là dãy Bạch Mã (16ºB) đóng vai trò quan trọng. Biểu hiện sự phân hóa khí hậu theo Bắc-Nam là nền nhiệt độ (nhiệt độ trung bình năm, nhiệt độ tháng lạnh). Biến thiên nhiệt lớn vào mùa đông và biên độ nhiệt độ năm. Sự phân hóa khí hậu là nguyên nhân chính làm phân hóa thiên nhiên theo B-N.

2. Sự khác nhau về thiên nhiên giữa phần lãnh thổ phía Bắc và phần lãnh thổ phía Nam biểu hiện ở các đới cảnh quan tiêu biểu: đới rừng nhiệt đới gió mùa (từ dãy Bạch Mã trở ra), đới rừng cận xích đạo gió mùa (từ dãy Bạch Mã trở vào), ở sự thay đổi cảnh quan thiên nhiên theo mùa và ở thành phần các loài động, thực vật tự nhiên…

3. Sự phân hóa thiên nhiên theo chiều Đông-Tây biểu hiện rõ nhất là sự phân hóa thành 3 dải rõ rệt: vùng biển và thềm lục địa; vùng đồng bằng ven biển và vùng đồi núi.

4. Sự phân hóa thiên nhiên từ Đông sang Tây có sự khác nhau giữa các vùng do độ cao, hướng các dãy núi với sự tác động của các luồng gió mùa Đông Bắc, gió mùa Tây Nam. Biểu hiện ở sự phân hóa thiên nhiên giữa Đông và Tây Bắc Bộ, giữa Đông và Tây Trường Sơn.

5. Thiên nhiên phân hóa đa dạng còn biểu hiện ở sự phân hóa thiên nhiên theo độ cao. Ở Việt Nam, thiên nhiên có 3 đai cao điển hình là đai nhiệt đới gió mùa, đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi và đai ôn đới gió mùa trên núi. Sự hình thành 3 đai cao trước hết do sự thay đổi khí hậu theo độ cao, sau đó là sự khác nhau về thổ nhưỡng và sinh vật.

6. Sự phân bố thổ nhưỡng-sinh vật theo đai cao là có quy luật và có sự liên kết phù hợp giữa hai thành phần này trong đặc tính thống nhất của hệ sinh thái.

7. Sự phân hóa cảnh quan thiên nhiên là biểu hiện tổng hợp của sự phân hóa các thành phần tự nhiên. Thiên nhiên phân hóa đa dạng thể hiện ở sự phân hóa thiên nhiên theo khu vực. Sự phân chia thành 3 miền địa lý tự nhiên ở nước ta dựa trên sự khác nhau về yếu tố địa hình-kiến tạo và nền nhiệt.

8. Đặc điểm chung của mỗi miền địa lý tự nhiên thể hiện tính thống nhất quy định lẫn nhau giữa các thành phần tự nhiên. Trên cơ sở tổng hợp các kiến thức đã học về các thành phần tự nhiên có thể rút ra đặc điểm cơ bản của mỗi miền.

9. Cần chú ý đến các mặt thuận lợi và khó khăn khi sử dụng tự nhiên ở mỗi miền.

 

 

Thông tin về sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường

1. Vì sao rừng bị tàn phá?

Rừng bị chặt phá trước tiên để lấy đất làm nông nghiệp, trồng cây công nghiệp, nuôi thủy sản, xây dựng công trình… Những vùng đất bằng phẳng, màu mỡ bị chuyển hóa thành đất nông nghiệp còn có thể trồng trọt được lâu dài. Hiện nay, những vùng đất như vậy hầu như đã bị khai thác hết. Còn những vùng đất dốc, kém phì nhiêu, sau khi bị chuyển đổi thành đất nông nghiệp, thường cho năng suất thấp và nhanh bị bạc màu, hoặc đòi hỏi phải có những đầu tư tốn kém cho tưới tiêu và cải tạo đất. Rừng ngập mặn ven biển Việt Nam đang bị chặt phá để làm ao nuôi tôm. Do nuôi tôm theo kiểu quảng canh, không đúng kỹ thuật, nên năng suất không cao và mỗi ao cũng chi cho thu hoạch được vài năm, sau đó người ta lại đi chặt phá rừng làm ao mới. Rừng Tây Nguyên đang bị người dân di cư tự phát đốt phá nham nhở.

Nguyên nhân thứ hai dẫn đến mất rừng là lấy gỗ làm củi đốt. Cho đến thế kỷ XIX, trước khi khám phá ra khả năng đốt bằng than và dầu, chất đốt chủ yếu của con người là củi gỗ. Nhiều nước châu Au, trong giai đoạn đầu của cách mạng khoa học – kỹ thuật đã đốt gần hết rừng của mình. Hiện nay, ở nhiều nơi trên thế giới, củi và than củi vẫn là chất đốt chính trong gia đình và các bếp đun đang đốt khoảng ¼ số diện tích rừng bị tàn phá hàng năm.

Nguyên nhân thứ ba gây mất rừng là do khai thác gỗ. Gỗ cần cho sản xuất các đồ gia dụng, sản xuất giấy… Khoa học – kỹ thuật càng phát triển, người ta càng khám phá ra nhiều công dụng mới của gỗ, làm cho lượng gỗ tiêu thụ ngày càng nhiều. Trong khai thác gỗ, nếu chỉ chạy theo lợi nhuận, chỗ nào dễ thì khai thác trước, không đốn tỉa mà chặt hạ trắng, nghĩa là chặt từ bìa rừng vào, vừa chặt cây to lấy gỗ, vừa phá hoại cây con, thì những khu vực rừng đã bị chặt phá sẽ khó có cơ hội tự phục hồi lại được.

Nguyên nhân thứ tư gây mất rừng là do cháy rừng. Rừng bị cháy do đất rừng làm nương, làm bãi săn bắn, dùng lửa thiếu thận trọng trong rừng, thiên tai, chiến tranh… Trong mùa khô, chỉ cần một mẩu thuốc lá cháy dở, một bùi nhùi lửa đuổi ong ra khỏi tổ để lấy mật cũng đủ gây ra đám cháy rừng lớn trong nhiều ngày, nhất là khi không có đủ nước, nhân lực và phương tiện để dập tắt lửa.

Chiến tranh không phải là hiện tượng phổ biến, thường xuyên. Tuy nhiên các cuộc chiến tranh thường có sức tàn phá ghê gớm. Ở Việt Nam, từ năm 1945 cho đến nay mất khoảng hơn 2 triệu ha rừng. Nhiều vùng rừng bị chất độc hóa học tàn phá đến nay vẫn chưa mọc lại được.

Nói tóm lại, có năm nguyên nhân chính gây ra mất rừng là lấy đất, lấy gỗ, lấy củi, cháy rừng và chiến tranh. Trong đó, mất rừng do cháy và chiến tranh là sự mất mát phi lý nhất, vì nó chẳng đem lại điều gì tốt đẹp cho con người. Việc phá rừng lấy đất, lấy gỗ, lấy củi bừa bãi thực tế chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích của một số cá nhân nào đó. Vì mất rừng là Trái Đất mất cỗ máy sản xuất ôxi, động vật mất nơi cư trú, nhiều loài cây quý, lâu năm bị tuyệt giống, lũ lụt và hạn hán trở nên trầm trọng hơn…

Hy vọng rằng, bằng việc áp dụng thành công các tiến bộ khoa học – kỹ thuật và sử dụng tiết kiệm, hợp lý tài nguyên đất, rừng, tăng cường trồng và bảo vệ rừng, diện tích rừng trên Trái Đất sẽ có thể tăng lên.

(Nguồn: www.nea.gov.vn/)

2. Hệ thống rừng đặc dụng:

Bao gồm các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn loài sinh cảnh, khu rừng bảo vệ cảnh quan, di tích lịch sử, văn hóa và môi trường. Hệ thống rừng đặc dụng được xây dựng nhằm bảo vệ các hệ sinh thái rừng Việt Nam, bảo vệ các nguồn gen động, thực vật quý hiếm nhất là các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, bảo vệ các khu rừng văn hóa, lịch sử, cảnh quan, môi trường phục vụ cho nghiên cứu khoa học, lịch sử, vui chơi, giải trí, thể thao, du lịch.

 

3. Vườn quốc gia:

Là một loại hình rừng đặc dụng có tầm quan trọng về bảo vệ hệ sinh thái rừng của đất nước, thuộc tầm cỡ quốc gia, được đặt dưới sự quản lý của Nhà nước và trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Ở phía Bắc có 14 vườn quốc gia:

1. Ba Bể (Bắc Kạn)

8. Hoàng Liên (Lào Cai)

2. Ba Vì (Hà Tây)

9. Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình)

3. Bạch Mã (Thừa Thiên-Huế)

10. Vũ Quang (Hà Tĩnh)

4. Bái Tử Long (Quảng Ninh)

11. Xuân Sơn (Phú Thọ)

5. Bến En (Thanh Hóa)

12. Xuân Thủy (Nam Định)

6. Cát Bà (Hải Phòng)

13. Pù Mát (Nghệ An)

7. Cúc Phương (Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa)

14. Tam Đảo (Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang)

Ở phía Nam có 16 vườn quốc gia:

1. Bù Gia Mập (Bình Phước)

9. Phú Quốc (Kiên Giang)

2. Cát Tiên (Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước)

10. Tràm Chim (Đồng Tháp)

3. Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu)

11. U Minh Thượng (Kiên Giang)

4. Chư Mom Rây (Kon Tum)

12. Yok Đôn (Đăk Lăk)

5. Chư Yang Sin (Đăk Lăk)

13. Bi Đúp – Núi Bà (Lâm Đồng)

6. Kon Ka Kinh (Gia Lai)

14. Phước Bình (Ninh Thuận)

7. Lò Gò – Xa Mát (Tây Ninh)

15. Mũi Cà Mau (Cà Mau)

8. Núi Chúa (Ninh Thuận)

16. U Minh Hạ (Cà Mau)

 

4. “Khu dự trữ sinh quyển thế giới”

Là một danh hiệu do tổ chức Văn hóa-Khoa học-Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) trao tặng cho các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có hệ động, thực vật độc đáo, phong phú đa dạng trên đất liền, các vùng ven biển và biển – đảo. Cho đến nay, nước ta được UNESCO công nhận 6 khu dự trữ sinh quyển thế giới là:

1. Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ

2. Vườn quốc gia Cát Bà

3. Vườn quốc gia Nam Cát Tiên

4. Khu vực cửa sông–ven biển thuộc châu thổ sông Hồng (thuộc 3 tỉnh: Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình) gồm vườn quốc gia Xuân Thủy và khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải.

5. Vườn quốc gia U Minh Thượng

6. Khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An, trung tâm là vườn quốc gia Pù Mát vừa mới được công nhận ngày 12/2/2008).

Khu dự trữ sinh quyển thế giới được xem là phòng thí nghiệm sống về đa dạng sinh học cho các vùng địa lý sinh vật chính của quốc gia và quốc tế. Ngoài vai trò bảo tồn cho các loài sinh vật bản địa, lưu trữ vốn gen di truyền, góp phần giữ cân bằng sinh thái, nghiên cứu về cấu trúc và động thái của các hệ sinh thái, các khu này còn giúp cho việc trao đổi kinh nghiệm và kiến thức về phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Vịnh Hạ Long và vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng cũng đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới.

5. Sách đỏ Việt Nam.

Có danh sách các loài động, thực vật ở Việt Nam thuộc loài quý hiếm đang giảm sút số lượng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Đây là căn cứ khoa học để Nhà nước ban hành những Nghị định và chỉ thị về việc quản lý, bảo vệ và những biện pháp cấp bách để bảo vệ, phát triển những loài động, thực vật hoang dã ở Việt Nam. Các tiêu chuẩn sử dụng trong Sách đỏ Việt Nam được xây dựng trên nền các tiêu chuẩn Sách đỏ IUCN (Tổ chức Liên hợp quốc về bảo vệ thiên nhiên).

Sách đỏ Việt Nam, phần Động vật được xuất bản đầu tiên năm 1992 với 365 loài, phần Thực vật xuất bản năm 1994 với 356 loài nằm trong danh sách danh mục. Sách đỏ Việt Nam năm 2004 cho thấy tổng số loài động, thực vật hoang dã đã đang bị đe dọa đã lên đến 857 loài, gồm 407 loài động vật, 450 loài thực vật, nghĩa là số loài bị đe dọa tăng lên đáng kể, nhiều loài chuyển cấp từ nguy cấp lên rất nguy cấp.

Các cấp đánh giá:

+ Nguy cấp (EN: Endangered): một loài hoặc nòi bị coi là nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng tự nhiên rất cao.

+ Sắp nguy cấp (VU: Vunerable): nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa.

+ Sắp bị đe dọa (NT: Near Threatened).

+ Hiếm (R: Rare).

+ Bị đe dọa (T: Threatened).

+ Thiếu dữ liệu (K: Insufficiently known).

Trong danh mục các loài ở Sách đỏ Việt Nam, nhiều loài được các tổ chức bảo vệ động vật hoang dã thế giới quan tâm. Có 8 loài thú là voi, vẹc ngũ sắc, vượn đen, hổ, nai cà toong, bò xám, bò tót, trâu rừng đã được Liên hiệp quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đưa vào danh sách các loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ. Các loài chim trĩ, trĩ sao, gà lam mào trắng, gà lam đuôi trắng cũng đã được Tổ chức bảo vệ chim quốc tế hỗ trợ trong chương trình bảo vệ.

6. Sự suy thoái đa dạng sinh học Việt Nam.

Trong những năm qua sự suy thoái đa dạng sinh học Việt Nam ở nước ta đang diễn ra với mức độ đáng lo ngại. Sự suy thoái của các hệ sinh thái tự nhiên như: hệ sinh thái rừng nội địa, hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái đất ngập nước là nguyên nhân chính về suy thoái đa dạng sinh học.

Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam rừng nhiệt đới ở địa hình thấp không còn nguyên vẹn nữa vì các khu rừng này đã bị biến đổi do nhiều hoạt động nông nghiệp và định cư. Các hoạt động này đã làm cho sự phong phú vốn có về tài nguyên sinh học ở đây bị suy thoái nghiêm trọng. Cũng vì thế, các khu rừng nguyên vẹn chỉ còn sót lại ở những vùng núi cao, hiểm trở. Đó là những nơi còn giữ được sự phong phú và cũng là nơi cư trú cuối cùng của các loài đặc hữu, các loài có nguy cơ bị tiêu diệt của nước ta.

Do sự suy thoái của môi trường sống, đặc biệt là sự mất rừng và khai thác quá mức, nhiều loài sinh vật hoang dã ngày càng trở nên hiếm, trong đó có một số loài có nguy cơ bị tiêu diệt. Nhiều giống cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao cũng bị mất đi và thay vào đó là những giống cây, con mới có năng suất cao.

7. Tác dụng của rừng ngập mặn trong việc phòng chống thiên tại ở vùng ven biển.

Việt Nam nằm vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, hàng năm có 3-4 cơn bão đổ bộ vào vùng bờ biển nước ta và áp thấp kèm theo mưa lớn. Bão thường kết hợp với triều cường gây ra lũ lụt. Trước kia, ở nhiều địa phương ven biển dù đê chưa được bê tông hóa nhưng mái đê có lớp cỏ và dây leo phủ kín, có các bức tường xanh là các dải rừng ngập mặn vững chắc bảo vệ nên đê ít khi bị xói lở hoặc bị vỡ khi mưa bão.

Vào cuối thế kỷ XX, do sự bùng nổ về dân số và yêu cầu xuất khẩu nên phần lớn rừng ngập mặn ở miền Bắc đã bị phá hủy lấy đất trồng cói chế biến hàng xuất khẩu sang Liên Xô (cũ) và Đông Au. Ở miền Nam, rừng bị khai thác kiệt quệ để lấy gỗ tròn, hầm than xuất khẩu và làm đầm nuôi tôm. Bên cạnh đó việc phá rừng ngập mặn phòng hộ để sản xuất nông nghiệp, làm nơi đổ xỉ than, xây dựng cảng, khu dân cư, khu du lịch… cũng góp phần đáng kể trong việc hủy hoại rừng ngập mặn. Hậu quả của những hoạt động kinh tế vì lợi ích trước mắt hoặc cục bộ đã tạo điều kiện cho thiên tai hoành hành, cuộc sống của cộng đồng ven biển luôn bị đe dọa.

Thực tế đã cho thấy nơi nào phục hồi và bảo vệ tốt rừng ngập mặn thì khi có bão kể cả những cơn bão với vận tốc gió cấp 10,11,12 như trong năm 2005 thì đê vẫn an toàn. Trong khi nơi đê có phủ bê tông vững chắc nhưng không có rừng ngập mặn như ở Cát Hải, Đồ Sơn, Hải Phòng lại bị sạt lở nặng, một số đoạn bị vỡ trong cơn bão số 2 năm 2005. Do đó việc phục hồi các dải rừng ngập mặn, nghiên cứu các loài cây trồng thích hợp để giảm thiểu tác hại do thiên tai là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách.

8. Suy giảm tài ngyên đất ở Việt Nam.

Hiện nay cả nước còn 5,35 triệu ha đất chưa sử dụng, thì có 5 triệu ha là đất đồi núi bị suy thoái nặng, đất đồng bằng chưa sử dụng chỉ còn khoảng 350 nghìn ha.

Sự suy giảm tài nguyên rừng đang ở mức báo động là nguyên nhân gia tăng diện tích đất hoang hóa, giảm sút đáng kể các hệ sinh thái, làm suy thoái vùng đầu nguồn. Vào năm 1943, Việt Nam có tỷ lệ che phủ rừng là 43%, hiện nay tỷ lệ che phủ rừng cũng chỉ 37,6%. Độ che phủ này chưa bảo đảm độ che phủ bảo vệ sinh thái.

Nguồn nước bị ô nhiễm cũng là nguyên nhân gây suy thoái đất, nguồn nước ngầm cạn kiệt gây biến đổi tính chất đất. Ngoài ra, sự cố nứt đất và trượt lở đất cũng xảy ra ngày càng một nghiêm trọng hơn, nhất là ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Bắc và miền Trung. Các kết quả khảo sát ghi lại 51 điểm sụt lở đất làm mất hàng năm 350 ha đất. Theo dự báo, số lượng sụt lở còn tiếp tục gia tăng và tổng diện tích đất bị mất có thể lên tới 10.000 ha.

Việc khai thác tài nguyên biển, phát triển nuôi trồng thủy sản không có sự kiểm soát chặt chẽ ở một số địa phương cũng là yếu tố gây mất rừng phòng hộ ven biển, làm suy thoái đất và nguồn nước.

Tình trạng sa mạc hóa cũng đang diễn ra trong dải cát hẹp trải dọc theo bờ biển miền Trung, tập trung ở 10 tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận với diện tích khoảng 419.000 ha và ở Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 43.000 ha. Trong gần 40 năm qua, quá trình hoang mạc hóa do cát di động rất nghiêm trọng. Mỗi năm có khoảng 10-20 ha đất canh tác bị lấn bởi cát di động.

9. Vấn đề ô nhiễm môi trường:

– Ô nhiễm môi trường: là sự xuất hiện các chất lạ trong môi trường gây phương hại đến con người và các sinh vật khác.

– Nguyên nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm môi trường: do các chất thải trong hoạt động kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải…) và chất thải sinh hoạt của con người chưa được xử lý thải vào môi trường. Nguyên nhân thứ yếu là do các hiện tượng tự nhiên: lốc, gió, mưa, bão, núi lửa, cháy rừng…

a) Ô nhiễm nước: là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm ô nhiễm nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, cho nông nghiệp, nghỉ ngơi giải trí, đối với động vật nuôi và loài hoang dã (định nghĩa của Hiến chương châu Âu về nước).

Các tiêu chí phổ biến nhất để dùng đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường nước là:

+ Chất lơ lửng (các chất không tan trong nước).

+ Nhu cầu ôxi sinh hóa – BOD (là lượng ôxi cần thiết để các sinh vật hiếu khí ôxi hóa các chất bẩn hữu cơ trong nước trong một khoảng thời gian xác định).

+ Nhu cầu ôxi hóa học – COD (là lượng ôxi cần thiết để ôxi hóa các chất bẩn hữu cơ có trong nước).

b) Ô nhiễm không khí: là sự có mặt chất lạ hoặc sự biến đổi quan trọng thành phần không khí làm cho không khí không sạch hoặc gây ra mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa.

Các chất bẩn gây ô nhiễm không khí như bụi, khói, các loại ôxit: lưu huỳnh, nitơ, cácbon và một số hợp chất khác, trong đó chủ yếu là các chất khí CO2, NO2, SO2. Các chất gây ra sự suy thoái tầng ôdôn là clofluocacbon (CFC), mêtan (CH4), ôxit nitơ (NO, NO2).

c) Ô nhiễm đất: do sự tiếp nhận các chất thải từ hoạt động sản xuất, sinh hoạt của các khu công nghiệp, đô thị và các sản phẩm hóa học dùng trong nông nghiệp. Môi trường đất bị ô nhiễm làm ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm. Đất bị ô nhiễm gây độc hại cho cây trồng, sinh vật sống trong đất, động vật ăn cỏ, chất lượng nông sản làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và phá hủy cảnh quan.

10. Vấn đề bảo vệ môi trường ở các vùng lãnh thổ.

a) Bảo vệ môi trường vùng đồi núi:

Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái ở vùng đồi núi có ý nghĩa quyết định đối với việc giữ cân bằng sinh thái môi trường chung của đất nước.

Bảo vệ môi trường sinh thái vùng đồi núi là phải đảm bảo tỷ lệ che phủ rừng của cả nước từ 45-50%, vùng núi dốc từ 70-80%, bảo vệ sự đa dạng sinh vật, ngăn chặn các hiện tượng xói mòn – thoái hóa đất, lũ ống, lũ quét trong mùa mưa và khô cạn, thiếu nước trong mùa khô. Hậu quả của tình trạng xói mòn đất mạnh ở vùng đồi núi là làm cắt xẻ bề mặt địa hình và mang vật liệu bồi đắp lòng sông, càng làm tăng mức độ ngập lụt trong mùa mưa và cạn kiệt vào mùa khô ở đồng bằng hạ lưu sông.

Bảo vệ môi trường bao gồm việc phòng chống thiên tai. Ngoài các thiên tai thường diễn ra vùng đồi núi như xói lở, trượt đất, lũ ống, lũ quét, hạn hán, động đất, còn có các loại thiên tai khác như lốc, mưa đá, sương muối, tuy mang tính cục bộ địa phương, nhưng thường xuyên xảy ra gây tác hại cho sản xuất và đời sống nhân dân.

Để bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai trên và giảm thiểu tác hại của chúng cần áp dụng nhiều biện pháp như xây dựng công trình thủy lợi, trồng rừng, kỹ thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc, quản lý, sử dụng đất hợp lý và quy hoạch các điểm dân cư tránh các vùng có thể xảy ra lũ quét, động đất nguy hiểm.

b) Bảo vệ môi trường vùng đồng bằng:

Đồng bằng chỉ chiếm gần ¼ diện tích lãnh thổ nhưng tập trung tới khoảng ¾ dân số cả nước. Mật độ dân số ở đồng bằng rất cao (mật độ dân số ở Đồng bằng sông Hồng gấp gần 5 lần mật độ dân số trung bình của cả nước). Dân số đông, mức đô thị hóa đang tăng nhanh, thiếu kiểm soát gây sức ép lớn đối với việc khai thác tài nguyên, chất lượng môi trường và chất lượng cuộc sống. Tình trạng ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu đô thị và cả ở nông thôn đang có xu hướng ngày càng tăng. Dân số tập trung đông, nhiều nơi thiếu nước sạch, thiếu tiện nghi vệ sinh, không xử lý hết được chất thải trong hoạt động của các ngành kinh tế và sinh hoạt của dân cư, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được mức đô thị hóa, cộng đồng dân cư thiếu ý thức tự giác giữ vệ sinh môi trường… là các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường sống ở đồng bằng.

Loại thiên tai thường xuyên xảy ra và gây thiệt hại lớn nhất cho sản xuất và đời sống cư dân vùng đồng bằng nước ta là bão, ngập lụt và hạn hán. Mức độ và thời gian kéo dài, tác hại của các loại thiên tai này có chiều hướng gia tăng liên quan đến việc khai thác rừng, sử dụng đất không hợp lý ở các lưu vực sông và sự biến đổi khí hậu toàn cầu.

Bảo vệ môi trường ở đồng bằng bao gồm việc sử dụng hợp lý tài nguyên đất, nước, phòng chống ô nhiễm môi trường và các biện pháp phòng chống thiên tai. Biện pháp căn bản lâu dài để phòng chống bão, ngập lụt, hạn hán là xây dựng các công trình trị thủy hợp lý như xây đập, hồ chứa nước, cống cấp nước, tháo lũ đê sông, đê biển… cần kết hợp với các biện pháp khác như sử dụng hợp lý đất rừng, nguồn nước trên các lưu vực sông, chống xói mòn trên đất dốc, quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên đất và tài nguyên nước ở đồng bằng, dự báo và phòng tránh kịp thời trước các trận bão, lụt, hạn hán để giảm thiểu tác hại cho dân cư.

c) Bảo vệ môi trường vùng ven biển và biển.

Vấn đề ô nhiễm môi trường biển: các hoạt động kinh tế khai thác vùng biển ngày càng phát triển thì tình trạng ô nhiễm môi trường biển đang có chiều hướng gia tăng, nhất là vùng ven biển. Rác thải, nước thải từ nhà máy, khu dân cư đổ thẳng ra biển đã làm nhiều đoạn bờ biển bị ô nhiễm nhiêm trọng, gây tác hại cho nghề cá và hoạt động du lịch. Cần đề phòng ô nhiễm nước biển do sự cố tràn dầu trong khai thác dầu khí và các tàu vận chuyển dầu trên biển.

Phòng tránh thiên tai: hậu quả của sự biến đổi khí hậu toàn cầu như làm gia tăng cường độ, tần suất của bão và làm nước biển dâng cao đã gây ảnh hưởng rõ rệt đến vùng biển và ven biển của nước ta. Nhiều vùng đất thấp ven biển có nguy cơ bị ngập. Hiện tại, mỗi khi có bão lớn, mưa to, nước từ nguồn đổ về, nước biển dâng lên đã làm ngập lụt nhiều vùng đất. Hậu quả của những trận bão lụt lớn này là làm phá hủy hàng vạn ha hoa màu, làm đất đai bị nhiễm mặn, bị hoang mạc hóa. Bão, lụt là loại thiên tai hàng năm gây thiệt hại lớn về người và tài sản cho vùng ven biển nước ta, nhất là các đồng bằng ven biển miền Trung.

Nhiều đoạn cửa sông ven biển nước ta còn chịu tác hại của hiện tượng sạt lở đất. Sạt lở đất ven biển là một thiên tai do tác động công phá bờ biển của các yếu tố hải văn động lực, thêm vào đó là do hoạt động khai thác sử dụng bất hợp lý đất đai, khai thác rừng ngập mặn và nguồn nước trên các lưu vực sông.

Như vậy, ở mỗi vùng đồi núi, vùng đồng bằng, vùng ven biển và biển có thế mạnh riêng về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên cho phép phát triển các ngành kinh tế thì cũng có những vấn đề cần chú trọng trong việc bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai. Song hệ quả tác động đến môi trường của việc khai thác, sử dụng tự nhiên giữa các vùng lại có liên quan với nhau. Việc khai thác, sử dụng bất hợp lý tài nguyên rừng, đất, nguồn nước ở vùng đồi núi gây hậu quả gia tăng mức độ ngập lụt, khô hạn, thoái hóa đất ở vùng đồng bằng và làm xói lở hoặc bồi lấp vùng cửa sông, ven biển. Giữa vùng đồng bằng và vùng ven biển cũng chịu tác động hai chiều về hệ quả hoạt động của con người và tác hại của thiên tai. Điều đó chứng tỏ rằng thiên nhiên luôn là một thể thống nhất và độ nhạy cảm cao của môi trường thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa Việt Nam.

11. Những vấn đề bức bách về môi trường của Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam được sự giúp đỡ của các tổ chức Quốc tế đã xác định 8 vấn đề môi trường bức bách nhất cần được ưu tiên giải quyết là:

– Nguy cơ mất rừng và tài nguyên rừng đang đe dọa cả nước và trong thực tế tai họa mất rừng và cạn kiệt tài nguyên rừng đã xảy ra ở nhiều vùng, mất rừng là một thảm họa quốc gia.

– Sự suy thoái nhanh của chất lượng đất và sự thu hẹp diện tích đất canh tác theo đầu người, việc sử dụng lãng phí tài nguyên đất đang tiếp diễn.

– Tài nguyên biển, đặc biệt là tài nguyên sinh vật biển ở ven bờ đã bị suy giảm đáng kể, môi trường biển bắt đầu bị ô nhiễm, trước hết do dầu mỏ.

– Tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật, các hệ sinh thái…; đang được sử dụng không hợp lý, dẫn đến sự cạn kiệt và làm nghèo tài nguyên thiên nhiên.

– Ô nhiễm môi trường, trước hết là môi trường nước, không khí và đất đã xuất hiện nhiều nơi, nhiều lúc đến mức trầm trọng, nhiều vấn đề vệ sinh môi trường phức tạp đã phát sinh ở các khu vực thành thị, nông thôn.

– Tác hại của chiến tranh, đặc biệt là các hóa chất độc hại đã và đang gây ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên và con người Việt Nam.

– Việc gia tăng quá nhanh dân số cả nước, sự phân bố không đồng đều và không hợp lý lực lượng lao động giữa các vùng và các ngành khai thác tài nguyên là những vấn đề phức tạp nhất trong quan hệ dân số và môi trường.

– Thiếu nhiều cơ sở vật chất – kỹ thuật, cán bộ, luật pháp để giải quyết các vấn đề môi trường, trong khi nhu cầu sử dụng hợp lý tài nguyên không ngừng tăng lên, yêu cầu về cải thiện môi trường và phòng chống ô nhiễm môi trường ngày một lớn và phức tạp.

(Nguồn: www.thuvienkhoahoc.com)

 

Thông tin về một số thiên tai chủ yếu ở Việt Nam

1. Một số thiên tai chính: bão, lũ lụt, hạn hán ở Việt Nam.

Theo Liên hợp quốc, Việt Nam nằm trong số 10 nước hàng đầu thế giới bị thiệt hại do thiên tai. Thống kê trong 10 năm gần đây, bình quân mỗi năm bão, lũ, sạt lở đất, lũ quét, hạn hán và các thiên tai khác đã làm chết và mất tích hàng ngàn người, giá trị thiệt hại về tài sản hơn 6000 tỷ đồng, ước tính chiếm 1,5% GDP. Trong các loại thiên tai gây thiệt hại về người và tài sản thì bão lũ là nguyên nhân chính.

a) Bão, lũ lụt:

Tính từ năm 1954 đến nay đã có hơn 212 cơn bão đổ bộ hoặc có ảnh hưởng tới Việt Nam. Tính trung bình, hàng năm có khoảng 30 trận bão hình thành ở biển Thái Bình Dương, trong đó xấp xỉ 10 trận là hình thành từ Biển Đông. Trong số đó, hàng năm từ tháng V đến tháng XII, có khoảng từ 4-6 cơn bão đổ bộ vào bờ biển Việt Nam. Nhiều năm qua, Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp của 10 hoặc trên 10 cơn bão đổ bộ một năm, ví dụ như năm 1964 (18 cơn bão), năm 1973 (12 cơn bão), năm 1978 (12 cơn bão) năm 1989 (10 cơn bão).

Trận bão lũ lịch sử là bão số 5 (Lekima) diễn ra vào tháng X năm 1007 đã gây thiệt hại lớn cho miền Trung là ví dụ. Trận bão này làm 70 người chết, 16 người mất tích, 126 người bị thương, 135.000 ngôi nhà bị sập, hư hỏng, hàng trăm nghìn ha lúa và hoa màu bị mất trắng, ước tính thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng.

Trận bão Linda xảy ra vào năm 1997 tại đồng bằng sông Cửu Long với tốc độ gió 150 km/giờ (cấp gió 14) là một tai họa bất thường, gây nỗi kinh hoàng cho cư dân trong vùng. Tổn thất trận bão này là rất lớn, đã làm thiệt mạnh 4500 người, hư hại 200000 căn nhà và 350000 ha ruộng.

Bão, lũ lụt ở đồng bằng sông Hồng: lũ kết hợp mưa bão làm cho đồng bằng sông Hồng hứng chịu thiên tai lũ lụt nghiêm trọng nhất. Tròng vòng 100 năm qua, đồng bằng sông Hồng đã chịu 26 trận lũ lớn. Hàng năm có khoảng 15% diện tích ruộng trên đồng bằng bị úng ngập. Lũ lụt ở đồng bằng sông Hồng đã có phần giảm bớt do các hồ chứa nước ở phần trung và thượng lưu sông. Nhưng tác hại lũ lụt do gió bão từ biển vào cũng gây thiệt hại lớn. Như trận lũ lụt do bão Frankie gây nên vào ngày 24 tháng 7 năm 1999, mưa to; với tốc độ gió hơn 100 km/giờ (cấp 11) làm 100 người thiệt mạng, 194.000 căn nhà bị hư hại và hơn 177000 ha đồng ruộng bị úng ngập.

Bão, lũ lụt ở miền Trung: lượng mưa lớn, tập trung cao vào các tháng IX, X do sự kết hợp của mưa bão, áp thấp nhiệt đới và gió mùa Đông Bắc, trong đó bão là nguyên nhân chính gây mưa lớn và lũ lụt miền Trung. Từ năm 1995-1999, miền Trung chịu ảnh hưởng của 13 cơn bão, 5 áp thấp nhiệt đới và 23 đợt gió mùa Đông Bắc cũng là những năm lũ lụt gây thiệt hại lớn nhất về người và tài sản cho cư dân miền này. Ở miền Trung, lũ lụt năm 1996 làm chế 400 người, năm 1998 số người chết do lũ lụt là 450 người. Năm 1999, hai cơn lũ xảy ra liên tiếp từ đầu tháng XI đến đầu tháng XII được coi là cơn lũ thế kỷ đã làm 750 người thiệt mạng và tổn thất tài sản tới 300 triệu USD (tương đương 4,8 nghìn tỷ đồng Việt Nam)

Bão, lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long: tuy thường ít xảy ra nhưng lũ lụt lại thường phát triển trên diện rộng, hơn nữa nhà ở của cư dân vùng nông thôn đồng bằng không kiên cố nên tác hại do lũ lụt gây ra rất lớn. Từ tháng IX đến tháng XI năm 2000, lũ đã làm thiệt mạng gần 1000 người và tổn thất 5 triệu USD (khoảng 80 tỷ đồng Việt Nam).

Lũ tiểu mãn: thường không lớn nhưng lại xảy ra vào lúc các sông suối đang ở thời kỳ khô kiệt nên có vai trò rất quan trọng.

Các đợt lũ xảy ra vào nửa cuối tháng V đầu tháng VI hàng năm được gọi là lũ tiểu mãn. Đây là kết quả của những trận mưa vào thời kỳ này tương đối lớn, nhất là ở các tỉnh bắc Bộ và có xu hướng giảm dần từ Bắc Bộ vào Nam Trung Bộ, Tây Nguyên xuống các tỉnh duyên hải miền Trung. Lượng mưa trung bình thời kỳ này có thể đạt 300-500 mm ở Bắc Bộ và Tây Nguyên; từ 150-300 mm ở Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ; từ 100-200 mm ở Bình thuận đến Ninh Thuận. Khả năng sản sinh dòng chảy của mưa tiểu mãn thường thấp, nhưng cũng có năm rất lớn gây lũ lụt, ví dụ vào tháng 5/1989 ở một số sông Bắc Trung Bộ và vào tháng 6/2001 ở các sông Bắc Bộ.

Do các hoạt động của các hình thái thời tiết gây lũ tiểu mãn biến đổi qua các năm nên mưa trong thời kỳ tiểu mãn ở các năm cũng khác nhau. Đối với Trung Bộ (mưa tiểu mãn do ảnh hưởng của nhiều hình thế thời tiết gây mưa khác nhau: xoáy thuận nhiệt đới, rìa áp thấp nóng phía tây bị tác động của không khí lạnh…) những năm không có mưa hoặc mưa nhỏ trong thời kỳ tiểu mãn sẽ không có lũ tiểu mãn. Ở Bắc Bộ (mưa tiểu mãn do tác động của không khí lạnh kết hợp với các hình thế thời tiết khác). Ở Tây Nguyên (do tác động của gió mùa Tây Nam) do mưa tiểu mãn xảy ra vào thời kỳ đầu của mùa mưa chính vụ, mức độ khô nóng chưa gay gắt, tổn thất do thấm và bốc hơi ít nên khả năng sinh dòng chảy từ mưa tiểu mãn thuận lợi hơn. Do đó khả năng xuất hiện lũ tiểu mãn ở Bắc Bộ và Tây Nguyên cao hơn nhiều so với Trung Bộ. Tần suất xuất hiện lũ tiểu mãn ở Bắc Bộ và Tây Nguyên là 80-90%, ở Trung Trung Bộ là 50-75%.

Tuy không lớn nhưng lũ tiểu mãn có vai trò rất quan trọng. Ở Trung Bộ, thời kỳ lũ tiểu mãn nằm giữa mùa cạn nên dòng chảy được bổ sung đáng kể, mức bổ sung có thể đến 50-200%, đặc biệt đối với các vùng dòng chảy nghèo nàn như Bình Thuận, Ninh Thuận lượng dòng chảy bổ sung có thể đến 150-250%. Những năm không có lũ tiểu mãn vào tháng VI, tháng VII lượng dòng chảy cạn kiệt nặng nề dẫn đến hạn hán. Trong những năm gần đây, dòng chảy chỉ đạt 40-60% lượng dòng chảy trung bình nhiều năm cùng kỳ, có năm chỉ đạt 20-30%. Hạn hán vào các năm 1993, 1998, 2005 ở Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Bắc Bộ đã gây hạn trên diện rộng và ảnh hưởng đến sự hoạt động của các nhà máy thủy điện, có nguyên nhân của lũ tiểu mãn muộn, nhỏ hoặc không có.

Những vấn đề khác có liên quan trực tiếp hoặc liên đới tới lũ:

+ Mưa lớn kết hợp với gió mạnh: Có từ 70-80% lượng mưa trung bình ở Việt Nam (2500 mm/năm) xuất hiện từ tháng VII đến tháng XI. Lượng mưa lớn nhất trong 12 giờ đo được là 702 mm, lượng mưa lớn nhất đo được trong vòng 48 tiếng là 1217 mm. Mưa lớn kết hợp với bão hầu hết dẫn đến lũ sông.

+ Lũ quét: là loại tai biến thiên nhiên gây ra nguy hại lớn cho con người. Có nhiều yếu tố để dẫn đến lũ quét diễn ra:

* Về địa hình: địa hình vùng đồi núi rất dốc (>30º), địa hình bị chia cắt mạnh mẽ thành những hẻm, vực sâu, độ dốc rất lớn thường tạo thuận lợi cho lũ quét xuất hiện. Phạm vi bị lũ quét tác động là những lưu vực nhỏ, chỉ 100-200 km²; hoặc chỉ vài chục km². Những khu vực từng xảy ra lũ quét ở Việt Nam đều có độ dốc lớn, ví dụ một lưu vực của sông Nậm La (Sơn La) dốc 45,2º, Mường Lay (Lai Châu) dốc 37-48º, Bát Xát (Lào Cai) dốc 37-42º.

* Về điều kiện khí tượng: vùng xảy ra lũ quét thường có chênh lệch nhiệt độ không khí trong ngày và trong năm rất lớn (Lai Châu – Sơn La khoảng 10ºC, Lào Cai – Yên Bái khoảng 7-8ºC). Do tác động của nhiệt độ, mưa nắng, bề mặt đất bị phong hóa, giảm tính liên kết và dễ sụt lở khi có mưa.

* Yếu tố trực tiếp gây ra lũ quét là mưa. Trong trường hợp có lượng mưa lớn trên 150 mm/ngày và tập trung trong 2-3 tiếng thì nguy cơ lũ quét xảy ra là rất lớn. Cường độ mưa khi xảy ra lũ quét là rất cao, lớn nhất có thể là 70-100 mm/giờ.

* Hoạt động của con người cũng là nguyên nhân thúc đẩy thêm sự xuất hiện của lũ quét, đó là hoạt động phá rừng để sản xuất, xây dựng nhà cửa… đã làm hạn chế khả năng giữ nước của mặt đất. Khi xảy ra mưa lớn, nước không thấm sẽ chuyển động nhanh hơn, tạo thành lũ. Những nơi thường xảy ra lũ quét như Sơn La, Lai Châu thường có độ che phủ rừng rất thấp. Trước năm 1975 độ che phủ nơi đây là 10%, đến nay chỉ còn dưới 6%, với các loại cỏ tranh, sim, mua, không có khả năng giữ nước.

Lũ quét thường kèm theo sạt lở đất, cuốn trôi những tảng đá cực lớn. Theo tính toán, với độ dốc 30º, chiếu dài sườn dốc 100 m thì tốc độ chảy của nước lũ có thể đạt trên 30m/giây và đủ khả năng di chuyển những tảng đá có đường kính 1-2 m. Trên đường đi, lũ quét san bằng mọi thứ, làm thay đổi cảnh quan cả một khu vực. Điều nguy hiểm là lũ quét thường rất hay xảy ra ban đêm, sớm thì 10-11 giờ, muộn thì 3-4 giờ sáng, nên khả năng đối phó với lũ quét thường rất khó.

+ Sự gia tăng dòng chảy:những hoạt động bất hợp lý của con người, đáng kể nhất là phá rừng và sự yếu kém trong công tác quy hoạch nông nghiệp, phát triển công nghiệp ở trong lưu vực sông có thể dẫn đến sự tăng cường dòng chảy lũ một cách mạnh mẽ. Lũ trở nên cao hơn và nhanh hơn, làm tăng sự xói mòn và bồi lắng ở hạ lưu.

+ Lũ sông: dòng chảy trung bình năm của 16 lưu vực sông ở Việt Nam không có sự khác biệt lớn giữa các năm. Tuy nhiên lại có sự khác biệt lớn giữa dòng chảy các tháng trong ,ùa kiệt (chiếm 0,3% dòng chảy hàng năm) và dòng chảy trong các tháng mùa lũ (chiếm 30% dòng chảy hàng năm). Ví dụ như tỷ số giữa dòng chảy trung bình tháng nhỏ nhất và lớn nhất là 20 lần; đối với sông Đồng Nai là 50 lần. Dòng chảy lũ, trên bất kỳ con sông nào ở Việt Nam, hầu hết đều chắc chắn dẫn tới lũ sông.

+ Xói mòn lưu vực và bồi lắng đáy sông: bồi lắng là một vấn đề nghiêm trọng của các công trình thủy lợi ở Việt Nam. các hồ chứa nhân tạo đang là nơi giữ lại bùn cát của dòng chảy thượng lưu và gây xói lở bờ sông ở hạ lưu. Sự bồi lắng hồ chứa, bản thân nó làm giảm tuổi thọ sử dụng của các hồ đi hàng chục năm. Điều này cũng làm gây ảnh hưởng tới hiệu quả của việc làm chậm lại dòng chảy lũ, do đó làm mất đi một biện pháp quan trọng để giảm nhẹ lụt ở hạ lưu.

+ Sự mất ổn định mái taluy, lũ bùn đá và trượt đất: mưa lớn ở vùng núi đang làm xói mòn đất, gây nên sự trượt lở đất, đá nghiêm trọng, thậm chí tạo nên dòng chảy lũ bùn đất ở hạ lưu. Lũ bùn đá có thể xuất hiện bất ngờ mà không có dầu hiệu báo trước, mọi người rất có ít thời gian để sơ tán khỏi vùng nguy hiểm và lũ thường vùi lấp nhà cửa dưới các lớp đất đá.

+ Lũ từ biển: bão thường kết hợp với hiện tượng nước dâng do bão, tạo thành gió và sóng do gió. Gió bão mạnh sẽ tạo ra sóng lớn và sóng này làm tăng cao mực nước biển nhiều hơn tác dụng của gió ven bờ. Theo quá trình này, gió cuốn đường mặt nước từ biển vào trong bờ, làm nâng cao mực nước biển. Trong thời gian 30 năm qua, người ta ghi nhận được có một nửa trong số các cơn bão đổ bộ vào Việt Nam đã làm dâng cao mực nước biển trên 2 m. Một số trường hợp rất đặc biệt, bão có thể tạo thành nước dâng cao đến vài mét. Ở một số vùng ven biển, nguồn cung cấp bùn cát thông thường bị chắn lại và hệ quả là bão thường tạo nên sóng làm cho đường bờ biển bị hạ thấp đi một cách nhanh chóng, dẫn tới nước dâng do bão gây ra xâm nhập sâu hơn vào đất liền.

+ Sự hư hỏng của các công trình ngăn lũ: ở Việt Nam đã xảy ra khá nhiều sự cố đê sông và đê biển. Sự cố của các công trình này đã tàn phá các làng mạc, ruộng đồng, gây thiệt hại nghiêm trọng về người, ảnh hưởng trực tiếp đến công nghiệp, thương mại và cơ sở hạ tầng.

+ Nước biển xâm nhập vào tầng nước ngầm: tầng nước ngọt ở gần bờ biển đang bị nước biển làm suy giảm chất lượng. Nguyên nhân một phần do các giếng bơm ở tầng nước ngầm và một phần do sự suy giảm của dòng chảy mặt trong mùa kiệt. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của người dân.

Tất cả những vấn đề trên (trừ vấn đề cuối cùng) đều có liên quan trực tiếp hoặc có sự liên đới tới lũ lụt. Là quốc gia có dân số lên tới trên 80 triệu người mà hầu hết sống ở các vùng đất trũng thì gần như phần lớn dân số và cơ sở hạ tầng đều trở thành đối tượng của lũ lụt.

b) Hạn hán: vào hai năm 2003, 2004 diễn ra khắp cả nước, lượng mưa giảm 50-60% trung bình năm. Hạn hán nặng nhất ở Tây Nguyên, có nơi thời kỳ khô kiệt kéo dài tới 3 tháng, lượng mưa nhỏ hơn ¼ lượng bốc hơi, nhiều khi cả tháng không mưa. Hạn hán liên tiếp xảy ra vào các năm tiếp theo 2005, 2006, 2007. Theo điều tra ước tính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hạn hán năm 2005 làm cho gần 240000 ha trong tổng số 1560000 ha ruộng ở đồng bằng sông Cửu Long bị thiếu nước hoặc bị xâm nhập mặn, tổng số thiệt hại lên đến 722,4 tỷ đồng. Còn ở Tây Nguyên, riêng tỉnh Đăk Lăk đã có gần 100000 ha trong tổng số 163700 ha trồng cà phê bị hạn, con số thiệt hại lên đến 1106 tỷ đồng. Hạn hán vào năm đó có liên quan đến hoạt động của El Nino. Hạn hán thủy văn đang diễn ta (cuối tháng 12/2007 – 1/2008) ở miền Bắc. Mực nước sông Hồng hạ thấp còn 1,1 m (thấp nhất trong vòng 50 năm nay), dự báo từ 100000-200.000 ha cây trồng thiếu nước.

2. Động đất ở Việt Nam.

Có nhiều kiểu động đất: do thiên thạch va đập vào Trái Đất; do tích nước vào các hồ chứa quá lớn tạo ra động đất kích thích; do bơm hút nước ngầm, khí đốt gây sụp đổ ngầm dưới đất; do sập đổ trần các hang động ngầm; do phun trào núi lửa; do sự cọ sát xát của các mảng thạch quyển đại dương đang bị hút chìm xuống dưới một mảng khác, tạo ra động đất tâm sâu (có thể sâu đến 700 km); do sự xô dồn các mảng thạch quyển vào nhau dọc theo đới dồn mảng (conllision) và cuối cùng do hoạt động của các đứt gãy địa chấn bên trong các mảng lục địa.

Việt Nam có không ít động đất. Riêng trong thế kỷ XX đã ghi được khoảng 500 trận động đất lớn nhỏ, phần lớn từ cấp 7 trở xuống, một số ít có thể đạt đến cấp 8 và rất ít cấp 9. Việt Nam không có động đất lớn hơn cấp 9. Số liệu thống kê cho thấy từ năm 1900 đến nay có 6 trận động đất mạnh đã xảy ra tại Việt Nam. Đó là các trận động đất xảy ra vào năm 1935 tại Điện Biên; năm 1942 tại Điện Biên; năm 1946 tại Yên Thế (Bắc Giang); năm 1983 tại Tuần Giáo (Lai Châu); năm 2001 tại Điện Biên và năm 2006 tại Đô Lương (Nghệ An). Trong đó, trận động đất mạnh nhất xảy ra năm 1983 với 6,8 độ richte. Khu vực Tây Bắc chính là vùng trọng điểm xảy ra động đất ở Việt Nam, với gần 10 trận động đất lớn nhỏ kể từ năm 2001 đến nay. Nguyên nhân chính là do đứt gãy địa chất Điện Biên – Lai Châu và Sông Mã – Sơn La.

Động đất Việt Nam thuộc kiểu do hoạt động của đứt gãy tạo ra, đều có tâm chấn tiêu (tâm phát sinh động đất) nông, thường ít khi sâu quá 20 km. Việt Nam không có núi lửa đang hoạt động, nằm rất xa các đới hút chìm và đới dồn mảng nên không có các kiểu động đất liên quan đến các cấu trúc này như ở Nhật Bản, Philippin, Inđônêsia hay vùng núi Hymalaya…

Động đất liên quan đến các đứt gãy hoạt động (như trên đã nói, thực ra là các khối thạch quyển chuyển động) chính là nhờ năng lượng vận hành trong các mảnh thạch quyển, bắt nguồn từ năng lượng của vận động hút chìm hoặc xô dồn các mảng thạch quyển lớn của Trái Đất dọc theo ranh giới mảng. Các đới ranh giới mảng này cũng đồng thời là các đới siêu động đất của hành tinh. Động đất Việt Nam tiếp nhận năng lượng từ vận động dồn mảng giữa mảng An Độ Dương (có phần đại dương và phần tiểu lục địa An Độ) xô vào mảng châu Á. Đới này có hình vòng cung, từ nơi tiếp giáp giữa tiểu lục địa An Độ với dãy Hymalaya, vòng xuống vùng biển phía tây bán đảo Mã Lai rồi chạy xuống vùng biển phía tây nam các đảo Sumatra và Giava của Inđônêsia – là nơi xảy ra động đất Aceh tạo ra thảm họa sóng thần ở An Độ Dương vừa qua. Do đó, sau động đất Aceh, đã xảy ra dồn dập các động đất yếu hơn, muộn hơn và phân tán trên lãnh thổ Việt Nam. Thời gian lan truyền và giải tỏa năng lượng này có thể còn tiếp diễn và động đất còn có thể xuất hiện ở nước ta trong thời gian tới.

Ở Việt Nam có 23 đứt gãy sâu có tiềm năng động đất lớn nhất, 22 trong số đó nằm trên đất liền, 1 nằm ở ngoài biển, tạo ra sườn lục địa của Biển Đông. Trên mặt địa hình, các đức gãy sâu này có dạng tuyến khá thẳng, trùng với các dải thung lũng phân chia các dãy núi cao và thường có các dòng sông. Vì vậy, phần lớn các đứt gãy sinh ra động đất Việt Nam đều mang tên sông. Đứt gãy sông Mã là đới động đất nguy hiểm nhất Việt Nam, có thể gây ra động đất cấp 9. Đứt gãy sông Hồng đứng thứ nhì, có thể gây ra động đất cấp 8. các đứt gãy khác từ Huế trở ra Bắc chỉ có thể gây ra động đất cấp 7 trở xuống. Từ Đà Nẵng trở vào Nam động đất yếu hơn ít gây hư hại.

Hiện ở Việt Nam chỉ mới có 26 trạm quan sát động đất, trong đó 23 trạm ở miền Bắc và 3 trạm ở miền Nam (Huế, Đà Lạt, Nha Trang). Nhằm tăng cường khả năng dự báo động đất, Viện Vật lý địa cầu đã kiến nghị đặt thêm 12 trạm nữa tại miền Nam, đặt tại các nơi như Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc, Bạc Liêu, Vũng Tàu… Những trạm này sẽ ghi nhận trung thực các sự kiện động đất đã xảy ra, tập hợp các dữ liệu và trên cơ sở đó đưa ra dự báo trong tương lai.

(Nguồn: Chung sống với động đất ở Việt Nam-PGS.TS Nguyễn Đình Hòe-Khao học và đời sống số 67, ngày 22/8/2005).

3. Sa Pa xuất hiện tuyết bay kỷ lục nhất trong vòng 40 năm nay.

Theo nhiều người dân tại thị trấn Sa Pa của tỉnh Lào Cai, vào sáng 12/2/2008, tại thị trấn này đã có mưa tuyết trong vòng 30 phút, với những bông tuyết bay nhẹ nhàng tạo nên cảnh tượng đẹp mắt. Đến chiều 13/2/2008, đỉnh Hoàng Liên Sơn và Sa Pa thuộc tỉnh Lào Cai vẫn chìm trong rét buốt và băng giá. Băng đá phủ dày thành từng lớp trên mái nhà, cây rừng và có chiều hướng lan ra trên diện rộng, kéo từ đỉnh đèo Hoàng Liên Sơn xuống gần trung tâm thị trấn sapa. Nhiệt độ ban ngày tại khu du lịch Sa Pa là 0ºC và trên đỉnh đèo Hoàng Liên Sơn, nhiệt độ là -2ºC, có nơi xuống đến -3ºC vào ban đêm. Theo người dân địa phương, hiện tượng băng tuyết tại đây đã xuất hiện tại khu vực này trong vài ba ngày và là trận băng giá kỷ lục nhất ở đỉnh Hoàng Liên Sơn trong vòng 40 năm qua.

4. Bắc Bộ chống chọi với đợt rét kỷ lục đầu năm 2008.

Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương cho biết đợt rét đậm tại miền Bắc bắt đầu từ ngày 14/1/2008, kết thúc vào ngày 18/2/2008 và trở thành đợt rét kéo dài kỷ lục trong lịch sử quan trắc, tới hơn 35 ngày liên tục.

Đợt rét lạnh kéo dài nhất từng quan trắc được diễn ra vào năm 1968 cũng chỉ có kéo dài 28 ngày và đợt rét lạnh thứ hai xảy ra năm 1986 cũng kết thúc vào ngày thứ 26. Rét đậm diễn ra trên diện rộng với nhiều khu vực chịu ảnh hưởng nặng như Đông Bắc Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Đặc biệt tại nhiều khu vực thuộc vùng núi cao phía Bắc, nhiệt độ xuống thấp nhất dưới 0ºC như Sa Pa (Lào Cai) -2ºC và Mẫu Sơn (Lạng Sơn) – 5ºC, gây ra băng giá.

Không chỉ gây xáo trộn, khó khăn cho cuộc sống của người dân, đợt rét này còn gây thiệt hại không nhỏ cho sản xuất nông nghiệp. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ở miền Bắc hàng trăn ha lúa và mạ bị chết rét, tập trung tại các tỉnh, thành phố như Thái Bình, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương và Hải Phòng. Hơn 5000 gia súc, chủ yếu là trâu, bò ở các tỉnh miền núi phía bắc như Hà Giang, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Lào Cai và Thanh Hóa cũng đã bị chết do thiếu thức ăn và thời tiết quá khắc nghiệt.

(Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam)

5. Chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai.

Thủ tướng Chính phủ vừa có Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020. Theo đó, chiến lược bao gồm các công tác phòng chống thiên tai như: phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả nhằm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra, bảo đảm phát triển bền vững, góp phần ổn định xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng.

Mục tiêu của Chiến lược là huy động mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai từ nay đến năm 2020, nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản, hạn chế sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên, môi trường và di sản văn hóa, góp phần quan trọng đảm bảo sự bề vững của đất nước, bảo đảm an ninh quốc phòng. Quyết định nêu rõ những mục tiêu cụ thể, nhiệm vụ và giải pháp cho từng khu vực cũng như nguyên tắc chỉ đạo trong việc phòng chống thiên tai.

Kế hoạch hành động trong việc phòng chống và giảm nhẹ thiên tai bao gồm:

– Biện pháp hành chính:

+ Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng luật phòng chống và giảm nhẹ thiên tai. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

+ Ban hành các chính sách cứu trợ, chống đầu cơ tăng giá, phục hồi sản xuất và môi trường sau thiên tai. Ban hành các chính sách hỗ trợ những vùng thường xuyên có thiên tai.

– Biện pháp công trình:

+ Xây dựng các hồ chứa nước, quy trình điều hành các hồ chứa để khai thác hiệu quả nguồn nước và tham gia cắt lũ.

+ Nâng cấp hệ thống đê điều, cải tạo nâng cấp các cống dưới đê, cứng hóa mặt đê từ cấp 3 trở lên.

+ Xây dựng các khu neo đậu tàu thuyền trú bão.

 

Thông tin về địa lý dân cư Việt Nam

1. Kế hoạch về chính sách dân số Việt Nam.

Có thể chia chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam ra 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1: bắt đầu từ năm 1961 khi Chính phủ Việt Nam thành lập Ban chỉ đạo hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch (quyết định 216/CP ngày 26/12/1961) để xây dựng chính sách dân số và thực hiện các dịch vụ của chương trình thông qua Bộ Y tế. Trong giai đoạn này, chương trình đã tiến hành cuộc vận động nhằm khuyến khích các cặp vợ chồng thực hiện sinh đẻ có kế hoạch.

Giai đoạn 2: bắt đầu từ năm 1971 khi Uy ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em đảm trách cuộc vận động và làm các dịch vụ đặt vòng tránh thai thông qua mạng lưới các trung tâm chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hóa gia đình.

Giai đoạn 3: bắt đầu từ năm 1984 với quyết định thành lập Uy ban quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch (sau đổi thành Uy ban quốc gia Dân số-Kế hoạch hóa gia đình).

Giai đoạn 4: bắt đầu từ năm 1989 khi Uy ban quốc gia Dân số-Kế hoạch hóa gia đình tách ra khỏi Bộ Y tế và hoạt động như một cơ quan ngang bộ có thẩm quyền độc lập xây dựng chính sách. Từ năm 2007, Uy ban Dân số-Kế hoạch hóa gia đình lại sát nhập vào Bộ Y tế.

2. Chiến lược dân số kế hoạch hóa gia đình.

– Địa bàn trọng điểm là vùng nông thôn, nhất là khu vực có mật độ dân cư và mức sinh cao, tập trung hoạt động ở vùng nông thôn (thôn, xóm, bản, làng…).

– Đối tượng tác động chủ yếu là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, nhất là cặp vợ chồng đã có từ 2 con trở lên.

– Lực lượng nòng cốt thực hiện mục tiêu chiến lược là mạng lưới tổ chức các hoạt động dân số, kế hoạch hóa gia đình ở cơ sở.

3. Chính sách và chế độ.

– Xây dựng hoàn thiện hệ thống chính sách, chế độ, tạo động lực, khuyến khích mọi lực lượng xã hội tham gia thực hiện chương trình.

– Khuyến khích, thúc đẩy các cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai và tự nguyện thực hiện gia đình ít con.

– Khuyến khích về tinh thần và vật chất cho những người làm dịch vụ và tuyên truyền vận động kế hoạch hóa gia đình.

– Thúc đẩy tập thể, cá nhân thực hiện gia đình ít con.

4. Biến động dân số Việt Nam và hệ lụy.

Từ một nước có mức sinh rất cao so với số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 6,4 con vào năm 1960 đã giảm xuống còn 2,1 con vào năm 2005 và 2,09 con năm 2006; tỷ lệ phát triển dân số từ trên 3% vào những năm 60 thế kỷ XX đã giảm xuống còn 1,33% vào năm 2005; quy mô dân số năm 2006 đạt gần 84,2 triệu người, thấp hơn khoảng 5 triệu người so với mục tiêu Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) đề ra (89,15 triệu người), bình quân mỗi năm tránh sinh được khoảng 0,5 triệu người. Nhưng vào năm 2007 quy mô dân số có sự thay đổi theo hướng gia tăng và đặc biệt tình trạng mất cân bằng giới tính.

Viện Nghiên cứu phát triển xã hội vừa cảnh báo, tại một số tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và vùng ven biển, tỷ số giới tính khi sinh đã có sự chênh lệch cao và rất cao so với mức bình thường. Có tới 16 tỉnh tỷ số giới tính khi sinh từ 115 đến 128 nam/ 100 nữ và 20 tỉnh là 111 đến 120 nam/ 100 nữ.

Theo báo cáo của hệ thống thông tin quản lý từ các địa phương, trong 10 tháng của năm 2007, cả nước có 945.600 trẻ em sinh ra, tăng 26.801 trẻ (tăng 2,8%) so với cùng kỳ năm 2006. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên trong cả nước chưa có biến động lớn. Tuy nhiên, đáng lưu ý có 13 tỉnh có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên tăng so với cùng kỳ năm 2006 như Phú Yên, Tiền Giang, Quảng Bình, Bắc Giang, Thanh Hóa…

Số người mới sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại có tác dụng lâu dài như đặt vòng, triệt sản trong 10 tháng của năm 2007 đều giảm so với cùng kỳ năm 2006. Mức giảm tỷ lệ sinh chỉ đạt 0,25‰, không đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra là 0,3‰ và thấp hơn so với mức đạt được năm 2006 là 0,62‰. Mục tiêu năm 2008, nước ta phấn đấu giảm tỷ lệ sinh 0,3‰, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,25%.

Gia tăng dân số quá nhanh sẽ gây áp lực cho các vấn đề kinh tế – xã hội. Cụ thể như ở Hà Nội, gặp rất nhiều khó khăn trong việc tạo việc làm cho người đến tuổi lao động. Năm 2003, tỷ lệ phụ thuộc trẻ em dưới 15 tuổi là 32,74%, số người trên 60 tuổi là 15,30%. Đến năm 2006, tỷ lệ tương ứng là 31,6% và 17%. Số người trong độ tuổi lao động chiếm hơn một nửa số dân toàn thành phố.

Số lao động ngày càng tăng lên trong khi tỷ lệ người có việc làm giảm đi. Điều này đang thách thức các ngành, các cấp vào cuộc để giải quyết việc làm cho người lao động.

5. Mất cân bằng giới tính ở Việt Nam.

Theo tiến sĩ Khuất Thu Hồng (viện Nghiên cứu phát triển xã hội), kết quả điều tra biến động dân số hàng năm cho thấy tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam đã có sự chênh lệch rất cao so với mức bình thường, vào năm 2007 là 111 nam/100 nữ.

Có 16 tỉnh, thành phố (chủ yếu ở nông thôn) tỷ số giới tính khi sinh ra là 115 – 128 nam/ 100 nữ như An Giang (128/100), Kiên Giang (125/100), Trà Vinh (124/100), Kon Tum (124/100), Đăk Lăk (118/100), Thanh Hóa (116/100), Thái Bình (120/100), Hải Phòng (118/100), Hải Dương (120/100), Bắc Ninh (123/100), Quảng Ninh (118/100),…

Tổng cục Thống kê cũng đã tổng kết số trẻ sinh ra tại tất cả các trạm ý tế trên toàn quốc trong năm 2006 và chỉ số này là 110 nam/100 nữ.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch giới tính hiện nay là: tư tưởng thích sinh con trai rất phổ biến trong mọi gia đình, nên nhiều gia đình đã lựa chọn giới tính khi sinh bằng sự giúp đỡ của tiến bộ y học.

Hậu quả của việc lựa chọn này tất yếu dẫn đến việc mất cân đối giới tính nghiêm trọng trong thế hệ trẻ. Điều này sẽ gây ra những hậu quả xã hội khá nghiêm trọng.

Trung Quốc là một nước chịu nhiều hậu quả của việc mất cân bằng giới tính mà điển hình là vấn đề nhiều nam giới tương lai sẽ không được vợ, kéo theo sự gia tăng cưỡng hiếp, mại dâm, mua bán phụ nữ… và còn nhiều vấn đề xã hội khác.

6. Mật độ dân số Việt Nam quá lớn.

Theo Liên hợp quốc, để cuộc sống được thuận lợi, bình quân trên 1km² chỉ nên có từ 35-40 người. Như vậy, mật độ dân số của Việt Nam gấp khoảng 6-7 lần “mật độ dân số chuẩn”.

So với mật độ dân số Trung Quốc (136 người/km²) thì mật độ dân số Việt Nam đã cao gần gấp đôi, còn so với các nước phát triển thì gấp trên 10 lần. Mặc dù vậy, dân số Việt Nam vẫn tăng hàng năm.

Rõ ràng, Việt Nam là quốc gia có quy mô dân số rất lớn trong khi đó dân số vẫn tiếp tục tăng nhanh. Trong 3 năm gần đây, mỗi năm dân số tăng thêm khoảng hơn 1 triệu người, bằng số dân một tỉnh.

Kết quả điều tra và thống kê dân số học cho thấy: sau 85 năm, dân số nước ta tăng lên 5,3 lần, trong khi đó cũng thời gian này dân số thế giới chỉ tăng khoảng 3,6 lần.

Trong tình hình kinh tế – xã hội nước ta chưa phát triển, tình trạng nghèo đói còn cao, quy mô dân số khá lớn với hơn 84 triệu người (năm 2006), chất lượng dân số chưa được cải thiện đáng kể… Do đó, việc tăng dân số nhanh trở lại trong thời gian gần đây sẽ phá vỡ những thành tựu đạt được, cản trở sự phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, làm hạn chế tốc độ phát triển của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho Việt Nam đứng trước nguy cơ tụt hậu.

7. Đăk Lăk là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc nhất Việt Nam.

Theo thống kê của Ban Dân tộc tỉnh Đăk Lăk năm 2004, toàn tỉnh có tất cả 44 dân tộc sinh sống. Trong đó, dân tộc bản địa là Êđê và Mnông, dân tộc cư trú đông nhất là người Kinh.

Còn lại là các dân tộc di cư, chủ yếu từ phía Bắc vào như Tày, Nùng, Mường, Thái… sinh sống chủ yếu ở Buôn Ma Thuột, Krông Pắk, Krông Ana…

Chiếm tỷ lệ dân số cao nhất là người Kinh (1.044.799 người), Tày (41.066 người), Nùng (51.472 người), Thái (11.122 người), Mnông (32.672 người), Gia Rai (11.805 người), Êđê (243.011 người).

Trong khi đó, có nhiều dân tộc có số dân còn rất ít và đáng báo động như dân tộc Giấy (4 người), Cơtu (3 người), Khơmú (7 người), Hà Nhì (4 người), Churu (7 người), Phù Lá (6 người), Si La (11 người), đặc biệt dân tộc Pu Péo hiện nay chỉ còn duy nhất một người.

8. Đề nghị bổ sung dân tộc thứ 55.

Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế vừa có chủ trương thống nhất việc tiến hành khảo sát toàn diện về người Pacô tiến tới hình thành đề án đề xuất trung ương công nhận Pacô trở thành dân tộc thứ 55 của Việt Nam.

Các nhà nghiên cứu dân tộc học cho rằng Pacô và Tàôi là hai nhóm địa phương của cùng một dân tộc, tương đối đồng nhất về mặt văn hóa, ngôn ngữ nhưng có nhiều khác biệt về địa bàn cư trú và sự tiếp cận với văn hóa người Kinh.

Người Pacô hiện có khoảng 20.000 người, chiếm gần 50% số dân của huyện miền núi A Lưới, tỉnh Thừa Thiên-Huế và một số ít sống rải rác trên hai huyện Hướng Hóa và Đa Krông của tỉnh Quảng Trị.

9. Nguồn lao động và cơ cấu lao động của Việt Nam.

Quy mô dân số trong độ tuổi lao động ở nước ta lớn và tăng nhanh. Bình quân mỗi năm tăng thêm khoảng 1,16 triệu người hay 3,0% tạo mức cung lớn về lực lượng lao động.

Nguồn cung cho thị trường lao động chính là dân số hoạt động kinh tế hay còn gọi là lực lượng lao động. Theo điều tra lao động ngày 1/7 hàng năm, lực lượng lao động đã tăng từ 29,5 triệu người năm 1990 lên 37,6 triệu người năm 2000 và hiện đạt 42,7 triệu người.

Cơ cấu lực lượng lao động đã có sự thay đổi về chất. Số lao động tốt nghiệp THCS và THPT tăng lên qua các năm, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo tuy vẫn còn cao nhưng đang giảm dần. Tuy nhiên, lợi thế về nguồn nhân lực chưa được khai thác hết, thậm chí đang bị lãng phí, bởi vì cho đến nay cả nước còn có 5,3% lao động ở thành thị thất nghiệp và 19,4% lao động ở nông thôn chưa được sử dụng. Trong số này có không ít lao động trẻ, có sức khỏe và không ít lao động đã qua đào tạo. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chưa có việc làm hoặc làm không đúng nghề còn lớn. Có thể thấy, nguồn lao động lớn chưa sử dụng hoặc sử dụng chưa có hiệu quả đang trở thành vấn đề bức xúc của xã hội.

Cùng với sự Đổi mới của đất nước, trong hơn một thập kỷ vừa qua, cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã có những biến đổi quan trọng. Tỷ lệ lao động trong khu vực công nghiệp-xây dựng và dịch vụ đã tăng lên, tỷ lệ lao động trong nông, lâm ngư nghiệp giảm xuống. Tỷ lệ lao động trong công nghiệp-xây dựng răng từ 11,4% năm 1995 lên 12,8% năm 2000, rồi 17,9% năm 2005. Tỷ lệ lao động trong khu vực dịch vụ tăng lên tương ứng là 17,4% năm 1995, 22,1% năm 2000 và 25,3% năm 2005. Tỷ lệ lao động trong nông, lâm, ngư nghiệp giảm liên tục từ 71,2% năm 1995 xuống 65,1% năm 2000 và còn 56,8% năm 2005.

So với sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, sự chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra còn chậm song là một bước tiến bộ trong việc phân bố lực lượng lao động xã hội vào quỹ đạo chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, mở rộng nhóm ngành dịch vụ, đa dạng hóa ngành nghề trong nông nghiệp đã tạo thêm nhiều chỗ làm mới và tăng thêm việc làm cho người lao động. Bình quân hàng năm, nước ta đã giải quyết việc làm cho 1,2-1,4 triệu người, làm cho tỷ lệ thất nghiệp cả ở thành thị và nông thôn có xu hướng giảm.

Cơ cấu lực lượng lao động đã có sự thay đổi nhanh giữa thành thị và nông thôn. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, lực lượng lao động ở thành thị đã tăng dần lên và hiện chiếm 25% trong tổng lực lượng lao động.

Cơ cấu lực lượng lao động theo vùng lãnh thổ chậm thay đổi. Vùng Đồng bằng sông Hồng cho đến nay luôn là vùng có lực lượng lao động đông nhất, chiếm trên 22%. Vùng Tây Bắc, Tây Nguyên qua các năm cũng chỉ dừng ở mức trên 3% và 5,5%. Vùng Đông Nam Bộ có lực lượng lao động đông đảo, đang có xu hướng tăng cả về quy mô và tỷ trọng. Như vậy, việc phân bố lực lượng lao động vẫn còn nhiều bất cập so với tiềm năng và nhu cầu phát triển từng vùng.

10. Chất lượng nguồn lao động Việt Nam.

Việt Nam là quốc gia có dân số trẻ, có lực lượng lao động dồi dào, tuy nhiên lao động Việt Nam vẫn còn một số vấn đề hiện đang là trở lực cho việc phát triển, đó là:

– Thiếu lao động có trình độ cao. Tính đến cuối năm 2005, Việt Nam có tổng cộng 42,53 triệu lao động, trong đó ba phần tư là lao động ở nông thôn. Hiện mới chỉ có 32% số lao động đã qua đào tạo, tỷ lệ lao động đã có chứng chỉ đào tạo ngắn hạn là 14,4%. Thiếu trầm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao và lao động dịch vụ cao cấp trong các ngành tài chính, ngân hàng, du lịch, bán hàng… nên nhiều ngành nghề và công việc phải thuê lao động nước ngoài trong khi lao động xuất khẩu đa số chỉ có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hoặc chỉ mới qua giáo dục định hướng.

– Lĩnh vực thiếu hụt nhân sự nghiêm trọng nhất là công nghệ thông tin, tài chính, kiểm toán, luật và hầu hết các ngành công nghiệp. Nhiều lao động chưa có trình độ ngoại ngữ phục vụ tốt cho ngành nghề, nên gây khó khăn trong hội nhập.

11. Vấn đề việc làm.

Nền kinh tăng trưởng cao có tác động tích cực đến vấn đề giải quyết việc làm. Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, sự can thiệp của nhà nước thông qua các chương trình việc làm, các chương trình kinh tế-xã hội tạo thêm việc làm; phát triển các trung tâm dịch vụ việc làm, các hình thức thu hút nhiều lao động như làng nghề, kinh tế trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ đã góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị và tăng liên tục tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn.

Tình trạng việc làm, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn có sự khác nhau giữa các vùng và các tỉnh, thành phố. Nơi nào có trình độ phát triển kinh tế càng cao thì tỷ lệ thất nghiệp càng lớn. Hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị ở hai vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng cao hơn mức trung bình của cả nước, riêng thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh lại cao hơn cả. Trình độ học vấn và khả năng đào tạo nghề nghiệp cũng tác động trực tiếp đến việc làm. Bên cạnh đó, ở các vùng kém phát triển và có thu nhập thấp như Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ thì tỷ lệ sử dụng thời gian lao động tại nông thôn thấp hơn các vùng còn lại.

Một hướng giải quyết việc làm ở nước ta trong hơn thập kỷ qua là xuất khẩu lao động. Cho đến nay, tổng số lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài khoảng 400.000 người tại 40 nước và vùng lãnh thổ, bình quân hàng năm xuất khẩu 70.000 lao động. Theo ước tính, số tiền do xuất khẩu lao động mỗi năm gửi về cho gia đình trên 1,5 tỷ uSD, chiếm trên 3% GDP cả nước. Xuất khẩu lao động còn mang lại nhiều lợi ích khác nữa như kinh nghiệm về tay nghề, tác phong công nghiệp, trình độ quản lý, ngoại ngữ, góp phần xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của quê hương, đất nước.

(Nguồn: Việt Nam đất nước-con người. GS.TS Lê Thông (chủ biên)-nxb Giáo dục, 2007)

12. Những giải pháp quan trọng về vấn đề lao động và việc làm.

Thứ nhất, giải pháp quan trọng nhất và mang tính quyết định nhất là nâng cao chất lượng nguồn lao động thông qua công tác đào tạo và dạy nghề. Chất lượng lao động đề cập ở đây bao gồm cả trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng làm việc, văn hóa ứng xử, tác phong công nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật.

Trước hết là phát triển mạnh hệ thống dạy nghề theo hướng mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng trên cơ sở đa dạng hóa, chuẩn hóa và hiện đại hóa các cơ sở dạy nghề, ngành nghề đạo tạo, trình độ và phương thức đào tạo, bảo đảm cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo phù hợp. Phát triển dạy nghề trong doanh nghiệp và gắn với doanh nghiệp là chủ yếu; thực hiện liên kết với các trường dạy nghề để kiểm tra, đánh giá và cấp bằng chứng chỉ học nghề trong các doanh nghiệp. Thiết lập hệ thống kết nối giữa hướng nghiệp – dạy nghề – tư vấn, giới thiệu việc làm – doanh nghiệp, thu hút, tạo điều kiện cho nước ngoài đầu tư vào các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề theo tiêu chuẩn quốc tế tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, cần ban hành và thực hiện tốt các chính sách khuyến khích học nghề, đặc biệt là đối với người nghèo, dân tộc thiểu số và người tàn tật. Khuyến khích doanh nghiệp, khu vực tư nhân tham gia dạy nghề, có chính sách ưu đãi đối với nghệ nhân truyền nghề.

Thứ hai, hoàn thiện và phát triển hệ thống giao dịch thị trường lao động. Trong thị trường lao động, để cung – cầu lao động gặp nhau nhanh chóng, cần có các tổ chức giới thiệu việc làm, tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp và người lao động, giảm thiểu chỗ làm việc trống và người thất nghiệp. Tập trung đầu tư và hoàn thiện ba trung tâm giới thiệu việc làm ở ba vùng kinh tế trọng điểm (Bắc, Trung, Nam) đạt tiêu chuẩn các nước trong khu vực; đồng thời, quy hoạch và đầu tư hệ thống cơ sở giới thiệu việc làm ở địa phương, sử dụng công nghệ thông tin hiện đại để thực hiện giao dịch lành mạnh và hiệu quả.

Thứ ba, huy động nguồn lực để phát triển mạnh các vùng, ngành, lĩnh vực có khả năng thu hút nhiều lao động, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh tế trang trại, hợp tác xã, đặc biệt coi trọng phát triển kinh tế dịch vụ, công nghiệp chế biến nông sản, khôi phục và phát triển các làng nghề tiểu thủ công mỹ nghệ, sản xuất sản phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; tăng đầu tư vào nông thôn, miền núi nhằm chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động thông qua các chính sách trợ giúp, tín dụng tạo điều kiện cho người lao động phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập.

Thứ tư, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý, sử dụng lao động phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và thông lệ quốc tế tạo điều kiện cho lao động nước ta hội nhập với thị trường lao động quốc tế, bảo đảm quyền lợi hài hòa giữa người lao động và người sử dụng lao động để góp phần làm lành mạnh môi trường đầu tư.

Thứ năm, chuyển sang cơ chế thị trường tất yếu có nhiều rủi ro xảy ra đối với người lao động, nhất là các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Do vậy, bên cạnh việc triển khai thật tốt các quy định về bảo hiểm xã hội đã có, cần phải gắn các chế độ trợ cấp của bảo hiểm thất nghiệp với các hoạt động đào tạo lại, tư vấn và giới thiệu việc làm, hỗ trợ tích cực người mất việc trở lại làm việc, giúp cho người lao động có được việc làm và thu nhập ổn định.

(Nguồn: Võ Hồng Phúc-Uy viên Trung ương Đảng- Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư- theo www.tapchicongsan.org.vn)

13. Bốn giải pháp về việc làm thời kỳ Việt Nam gia nhập WTO.

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã có dự thảo báo cáo về vấn đề lao động – việc làm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, trong đó đưa ra một số giải pháp về việc làm.

Giải pháp đầu tiên, cần rà soát lại các quy định của Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành, trước hết là vấn đề tiền lương, quan hệ lao động, đào tạo và đào tạo lại, di chuyển lao động để sớm sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động vào năm 2008, các quy định này cần được mở rộng về phạm vi áp dụng và nâng cao hiệu quả cưỡng chế thi hành.

Biện pháp thứ hai, đó là phát triển KT-XH tạo ra nhiều việc làm và thu hút lao động.

Thứ ba, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề và kỹ năng nghề, hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật, tác phong, thái độ làm việc của người lao động. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động và các công ước quốc tế; hoàn thiện và phát triển thị trường lao động; xây dựng quan hệ lao động minh bạch, lành mạnh.

Cuối cùng, phải hoàn thiện và phát triển hệ thống an sinh xã hội, tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo. Trong những năm đầu sau khi gia nhập WTO, mạng lưới an sinh xã hội cần tập trung xử lý vấn đề lao động bị nghỉ việc, mất việc làm từ các lĩnh vực, các ngành có sực cạnh tranh kém, các doanh nghiệp, lĩnh vực được Nhà nước bảo hộ trước đây. Bên cạnh đó, cần tăng khỏang cách thu nhập và mức sống giữa các nhóm dân cư, giữa người lao động có tay nghề và lao động giản đơn, có việc làm và mất việc làm, giữa nông thôn và thành thị…

(Nguồn: www.dantri.com.vn)

14. Đến năm 2010 tạo thêm 8 triệu việc làm.

Đó là mục tiêu quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2010, vừa đước Chính phủ phê duyệt.

Cụ thể, chương trình này bao gồm ba dự án, trong đó dự án vay vốn tạo việc làm đạt mục tiêu tạo việc làm cho 1,7 – 1,8 triệu lao động thông qua hoạt động vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm.

Dự án thứ hai sẽ hỗ trợ lĩnh vực xuất khẩu lao động. Theo đó, mục tiêu phấn đấu đưa 40-50 vạn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Dự án này chủ yếu hỗ trợ khai thác, mở thị trường tiếp nhận lao động và hỗ trợ đào tạo nghề, đào tạo định hướng, nâng cao chất lượng nguồn lao động.

Đối với thị trường lao động trong nước, dự án thứ ba sẽ hỗ trợ phát triển thị trường lao động nhằm nâng cao năng lực và hiện đại hóa 30-40 trung tâm giới thiệu việc làm, nâng số người được tư vấn và giới thiệu việc làm lên trên 4 triệu người trong 5 năm. Năm 2008 sẽ xây dựng và đưa vào sử dụng trang web về thị trường lao động.

(Nguồn: www.vneconomy.vn)

 

CƠ CẤU LAO ĐỘNG PHÂN THEO KHU VỰC

THÀNH THỊ VÀ NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 1996 – 2005

Đơn vị: %

Khu vực

Cả nước

Thành thị

Nông thôn

Năm 1996

Năm 2002

Năm 2003

Năm 2005

100

100

100

100

20,10

23,83

24,24

25,00

79,90

76,17

75,76

75,00

 

CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO VÙNG KINH TẾ, GIAI ĐOẠN 1996 – 2005

Đơn vị: %

Vùng lãnh thổ

Năm

1996

2002

2005

Cả nước

Đồng bằng sông Hồng

Đông Bắc

Tây Bắc

Bắc Trung Bộ

Duyên hải Nam Trung Bộ

Tây Nguyên

Đông Nam Bộ

Đồng bằng sông Cửu Long

100,00

20,70

14,99

2,95

12,76

8,75

3,31

15,51

21,04

100,00

26,27

11,91

2,98

12,13

8,47

5,33

15,24

21,25

100,00

26,27

11,95

3,15

12,12

8,32

5,35

15,09

21,64

 

 

TỶ LỆ LAO ĐỘNG THIẾU VIỆC LÀM SO VỚI CÓ VIỆC LÀM

THEO GIỚI TÍNH, GIAI ĐOẠN 2001 – 2005

Đơn vị: %

Giới tính

Năm 2001

Năm 2002

Năm 2003

Năm 2005

Cả nước

Nam

Nữ

14,9

13,2

15,6

13,7

12,3

15,2

11,8

10,6

13,1

8,1

7,9

8,4

Thành thị

Nam

Nữ

8,4

7,8

9,0

8,6

7,7

9,6

7,7

6,9

8,7

4,5

4,4

4,6

Nông thôn

Nam

Nữ

16,2

14,8

17,5

15,2

13,7

16,8

13,1

11,8

14,4

9,3

9,0

9,6

 

TỶ LỆ THẤT NGHIỆP PHÂN THEO KHU VỰC THÀNH THỊ, NÔNG THÔN

GIAI ĐOẠN 2002 – 2005

Đơn vị: %

Khu vực

Năm 2002

Năm 1003

Năm 2005

Cả nước

Thành thị

Nông thôn

2,19

6,01

0,98

2,25

5,60

1,18

2,1

5,1

1,4

 

Thông tin về đô thị hóa ở Việt Nam

1. Một số nét chính trong quá trình đô thị hóa ở nước ta thời gian qua.

Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong thời gian qua thể hiện rõ một số nét chính sau đây:

Một là, quá trình đô thị hóa diễn ra chậm chạp, không ổn định, cho đến nay vẫn rất thấp so với thế giới và các nước đang phát triển. Trong cùng một khoảng thời gian 55 năm, tỷ lệ dân số đô thị toàn thế giới tăng từ 29,5% năm 1950 lên 48% năm 2005, khu vực đang phát triển tăng từ 17,8% lên 41%. Ngay trong khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ dân đô thị cũng tăng từ 14,8% lên 38%. Còn ở Việt Nam, tốc độ đô thị hóa chậm hơn rất nhiều, chỉ tăng từ 11% lên 27%.

Hai là, quá trình đô thị hóa diễn ra không theo đường thẳng. Đó là do tác động phức tạp của các nhân tố chính trị, quân sự, kinh tế và nhân khẩu ở từng thời kỳ. Điều này thể hiện ở sự gia tăng dân số đô thị và sự thay đổi tỷ lệ dân thành thị suốt hơn nửa thế kỷ qua. Trong thời kỳ 1931 đến 2005, số lượng tuyệt đối của dân số thành thị tăng từ 1.338.000 người lên 22.419.000 người (gấp gần 17 lần) nhưng tỷ lệ dân số thành thị chỉ tăng từ 7,5% lên 27% (3,6 lần).

Ba là, tỷ lệ dân thành thị thấp phản ánh sự phát triển công nghiệp còn yếu, cũng như tình trạng chậm phát triển của khu vực dịch vụ.

Như vậy, Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa và tương ứng là giai đoạn đầu của quá trình đô thị hóa, tức là giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông, lâm, như nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.

Theo dự báo, dân số đô thị của Việt Nam sẽ tăng lên từ 30-35% năm 2010 và 45% năm 2020.

(Nguồn: Việt Nam-đất nước con người, GS.TS Lê Thông (chủ biên).Nxb Giáo dục, 2007)

2. Chỉ tiêu phân loại đô thị Việt Nam.

Theo Nghị định của Chính Phủ ban hành ngày 05/10/2001, hệ thống đô thị của nước ta hiện nay được phân thành 6 cấp với các tiêu chuẩn như sau:

Đô thị loại đặc biệt. Phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

1. Thủ đô hoặc đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước.

2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 90% trở lên.

3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh.

4. Quy mô dân số từ 1,5 triệu người trở lên.

5. Mật độ dân số bình quân từ 15.000 người/ km²trở lên.

Đô thị loại I. Phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

Đô thị loại I phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước.

2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 85% trở lên.

3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh.

4. Quy mô dân số từ 500.000 người trở lên.

5. Mật độ dân số bình quân từ 12.000 người/ km²trở lên.

Đô thị loại II. Phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước.

2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 80% trở lên.

3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh.

4. Quy mô dân số từ 250.000 người trở lên.

5. Mật độ dân số bình quân từ 10.000 người/ km²trở lên.

Đô thị loại III. Phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh.

2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 75% trở lên.

3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh.

4. Quy mô dân số từ 100.000 người trở lên.

5. Mật độ dân số bình quân từ 8.000 người/ km²trở lên.

Đô thị loại IV. Phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

1. Đô thị với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh.

2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 70% trở lên.

3. Có cơ sở hạ tầng đã hoặc đang được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh.

4. Quy mô dân số từ 50.000 người trở lên.

5. Mật độ dân số bình quân từ 6.000 người/ km²trở lên.

Đô thị loại V. Phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

1. Đô thị với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hóa, dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của một huyện hoặc một cụm xã.

2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 65% trở lên.

3. Có cơ sở hạ tầng đã hoặc đang được xây dựng nhưng chưa đồng bộ và hoàn chỉnh.

4. Quy mô dân số từ 4.000 người trở lên.

5. Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/ km²trở lên.

Tiêu chuẩn phân loại đô thị áp dụng cho các trường hợp đặc biệt (đối với một số đô thị loại III, loại IV và loại V).

1. Đối với các đô thị ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa và hải đảo thì các tiêu chuẩn quy định chung cho từng loại đô thị có thể thấp hơn nhưng phải đảm bảo mức tối thiểu bằng 70% mức tiêu chuẩn quy định tại các Điều 8,9, 10,11, 12, 13 của Nghị định này.

2. Đối với các đô thị có chức năng nghỉ mát, du lịch, điều dưỡng, các đô thị nghiên cứu khoa học, đào tạo thì tiêu chuẩn quy mô dân số thường trú có thể thấp hơn, nhưng phải đạt 70% so với mức quy định; riêng tiêu chuẩn mật độ dân số bình quân các đô thị nghỉ mát, du lịch và điều dưỡng cho phép thấp hơn nhưng tối thiểu phải đạt 50% so với mức quy định tại các cấp đô thị như trên.

3. Chương trình ưu tiên phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020.

Khu vực đô thị: phát huy vai trò của các trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa trên từng vùng và địa phương, phát triển nhanh trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, đi đầu trong việc phát triển kinh tế tri thức. Tạo vành đai nông nghiệp ở các thành phố lớn.

Quy hoạch mạng lưới đô thị với một số ít thành phố lớn, nhiều thành phố vừa và hệ thống đô thị nhỏ phân bố hợp lý trên các vùng, chú trọng phát triển đô thị ở miền núi. Xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng động bộ theo quy hoạch. Đưa việc quy hoạch và quản lý đô thị vào nền nếp, ngày càng xanh, sạch, đẹp, văn minh. Hoàn thiện quy hoạch giao thông lâu dài, hợp lý ở tất cả các đô thị, khắc phục tình trạng ách tắc giao thông ở các đô thị lớn. Cung cấp đủ nước sạch, thoát nước và xử lý nước thải, xóa nhà tạm bợ. Đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần lành mạnh.

4. Báo động về cạn kiệt đất đô thị Việt Nam.

Với sự suy giảm của đất nông nghiệp, tốc độ sử dụng đất đô thị nhanh nhất thế giới, Việt Nam đã cạn kiệt quỹ đất ở các đô thị. Theo các nhà khoa học, Việt Nam cần dự tính và dành đủ đất để định cư cho hơn 6,13 triệu người dân đô thị tăng thêm từ nay đến 2010.

Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 mà Quốc hội thông qua năm 2006 cho thấy, khoảng 110.700 ha đất ở trong khu dân cư được chuyển đổi thành đất ở tại đô thị. Tuy nhiên, đến năm 2005, Việt Nam đã thực hiện được gần 103.000 ha, chỉ còn khoảng 7.800 ha, diện tích này cũng đã được giao cho các dự án mà chưa triển khai.

Tại Hội thảo về sử dụng tài nguyên đất ở Việt Nam với định cư đô thị và nông thôn, tháng 5/2007 tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu định cư, cho rằng: Việt Nam đã cạn kiệt nguồn đất đô thị từ nay đến 2010, trước tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ, lên tới 60% năm 2020. Theo nhận định của các tổ chức quốc tế, đến năm 2020 dân số Việt Nam sẽ tăng lên khoảng 100 triệu người, trong đó 70% sẽ sống trong các đô thị và các đô thị đang khủng hoảng trong việc tìm hiểu, xây dựng mô hình phát triển.

Bên cạnh đó, Hội Quy hoạch Việt Nam dự báo, Việt Nam cần dự tính và dành đủ đất để định cư cho hơn 6,13 triệu người dân đô thị tăng thêm từ nay đến năm 2010, nếu số dân đô thị tăng thêm như trên là đúng, thì con số 7.860 ha đất tăng thêm cho đô thị là không thể đủ. Chỉ tính đất ở cho một người dân đô thị (trung bình khoảng 40 m²/người) thì đất ở cho đô thị cần tăng thêm khoảng 21.000 ha, gấp 3 lần mức trên.

Theo GS William Logan, trường Đại học Deakin-Ôxtrâylia, hiện ở Việt Nam phát triển đô thị sử dụng đất nhanh nhất thế giới.

(Nguồn: www.vietnamnet.vn)

5. Phác thảo chân dung đô thị Việt Nam của các chuyên gia ngân hàng thế giới.

Tháng 9/2007, các chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB) công bố số liệu khảo sát mới nhất về đô thị Việt Nam. Theo đó, cơ sở hạ tầng đô thị Việt nam hiện trong tình trạng quá xập xệ: diện tích nhà ở trung bình là 10 m²/người, chỉ bằng 1/3 diện tích tiêu chuẩn trên đầu người ở các đô thị tiên tiến trên thế giới; tỷ lệ đất giao thông rất thấp; hệ thống cấp thoát nước bị thất thoát tới 30-40%; tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải chỉ đạt 70%; ô nhiễm trầm trọng về nguồn nước, không khí và môi trường, tiếng ồn… Ô nhiễm đang khiến hàng nghìn phụ nữ và trẻ em mắc bệnh; sức khỏe bị suy giảm nghiêm trọng.

Khảo sát của WB cũng cho thấy, tỷ lệ đói nghèo ở đô thị Việt Nam là 9,5% (năm 2000). Đi liền đó là hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém và thiếu thốn các dịch vụ cơ bản. Tốc độ đô thị hóa hiện đang tăng cao dẫn đến hiện tượng di cư ra thành thị ngày một lớn. Do đó, đói nghèo từ nông thôn đang chuyển sang đói nghèo thành thị. Hạ tầng xuống cấp nghiêm trọng đang ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của dân nghèo. Tất cả các đô thị Việt Nam đều chưa có sự lồng ghép giữa quy hoạch phát triển đô thị và quy hoạch môi trường, chưa kiểm soát được luồng dân cư di cư lên thành thị.

(Nguồn: Ngân hàng thế giới-WB)

6. Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh nằm trong “top” 6 thành phố nhiều bụi nhất.

Năm 1990, cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã tăng lên 694 và năm 2003 là 656 đô thị và đến năm 2006 là 689 đô thị.

Theo Báo cáo về môi trường toàn cầu vừa được Tổ chức môi trường Liên hợp quốc (UNEP) công bố ngày 26/10/2007, Việt Nam góp 2 trong số 6 thành phố ô nhiễm không khí nhất thế giới. Nếu tính đến những thiệt hại môi trường, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ còn 3-4%.

Riêng về nồng độ bụi bẩn trong không khí, các thành phố lớn của Việt Nam góp mặt tới 2 trong số 6 thành phố ô nhiễm không khí nhất thế giới: Hà Nội và tp Hồ Chí Minh, chỉ xếp sau Bắc Kinh, Thượng Hải của Trung Quốc, Niu Đêli của An Độ và Đacca của Bănglađét.

Báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2007, dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện nay đang ở mức khoảng 8%, nhưng nếu tính những tổn thất môi trường do quá trình tăng trưởng đem lại, tăng trưởng thực tế còn rất thấp, không khả quan như vậy. Thậm chí GDP thực tế của Việt Nam sẽ chỉ còn ở mức 3-4%.

(Nguồn: www.tintuconline)

Thông tin về chất lượng cuộc sống ở Việt Nam

HDI và chỉ số HDI ở Việt Nam.

Con người là vốn quý nhất, là mục tiêu phải hướng tới của mọi hoạt động kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia. Việc lựa chọn chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của con người có ý nghĩ rất quan trọng. Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) đã lựa chọn và đưa ra chỉ số phát triển con người (Human Development Index – HDI). Đây là thước đo tổng hợp về sự phát triển của con người, phản ánh mức độ đạt được những khát vọng chung của họ: có sức khỏe dồi dào, có tri thức và có mức thu nhập cao. Chỉ số HDI đo thành tựu của mỗi quốc gia trên ba phương diện: một cuộc sống dài lâu khỏe mạnh được đo bằng tuổi thọ trung bình; kiến thức của dân cư được đo bằng tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp; mức sống của con người được đo bằng tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người (GDP/người), tính theo phương pháp sức mua tương đương (PPP).

Từ năm 1990, HDI được công bố hàng năm để đánh giá các thành tựu phát triển con người và để Liên hợp quốc thực hiện xếp thứ hạng nước. Nhìn chung, chỉ số HDI trên toàn thế giới từ tập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay đã có những tiến bộ vượt bậc. Tuổi thọ trung bình tăng lên và đạt mức 67 tuổi, tỷ lệ biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp cũng tăng lên rõ rệt, GDP/ người được cải thiện với mức tăng trung bình năm là 1%. Giá trị của HDI cũng thay đổi đáng kể, từ 0,706 năm 2000 lên 0,741 năm 2005 chung cho toàn cầu.

Ở nước ta, nhờ chính sách quan tâm tới phát triển con người, các chỉ số phát triển con người có sự tiến bộ rõ rệt với ba đặc trưng nổi bật.

Một là, giá trị HDI của Việt Nam tăng liên tục qua các năm, từ 0,539 năm 1992 lên 0,560 năm 1995 rồi 1,688 năm 2000 và đạt 0,709 năm 2005.

Hai là, xếp hạng HDI của Việt Nam trong các nước và vùng lãnh thổ đã tăng lên từ 122/174 quốc gia năm 1992 lên 108/177 quốc gia năm 2005, trung khu vực ASEAN đã tăng từ thứ 7 lên thứ 6, ở khu vực châu Á là thứ 28 so với thứ 35. Điều đó chứng tỏ tăng trưởng kinh tế đã hướng vào phát triển xã hội, vào sự phát triển con người, phù hợp với nền kinh tế mà Việt Nam lựa chọn là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

HDI nước ta đạt được kết quả trên là nhờ sự đóng góp của cả ba chỉ số, trong đó chỉ số về tuổi thọ bình quân và chỉ số giáo dục đã đạt cao hơn chỉ số GDP/người. Trong báo cáo phát triển con người nằm 2005 với 177 quốc gia, UNDP đưa ra kết quả là Việt Nam đứng thứ 108 với các chỉ số thu nhập là 0,54, chỉ số giáo dục là 0,82 và chỉ số tuổi thọ là 0,76. HDI của nước ta mặc dù không ngừng tăng lên, tuy nhiên so với thế giới, thứ hạng vẫn còn thấp.

(Nguồn: Việt Nam-đất nước con người. GS.TS Lê Thông (chủ biên). Nxb Giáo dục-2007)

2. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam thuộc loại thấp.

Theo công bố hàng năm của Liên hợp quốc, thì “Chỉ số phát triển con người” của Việt Nam liên tục tăng, HDI tăng lên qua các năm (năm 1985 mới đạt 0,59, năm 1990 đạt 0,62, năm 1995 đạt 0,672, năm 2000 đạt 0,711, năm 2005 đạt 0,733. Thứ bậc về HDI của Việt nam tăng lên trong khu vực Đông nam Á, ở châu Á và trên thế giới. Thứ bậc trên thế giới về HDI cao hơn thứ bậc về GDP/người tính bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương, cao hơn hàng chục nước có GDP/ người cao hơn Việt Nam. Tỷ lệ nghèo đã giảm (từ 17,8% xuống còn 14,8%). Tuy vậy, Việt Nam vẫn đứng thứ 109 trong 177 nước so sánh.

Hiện nay, dân số Việt Nam khoảng 84,2 triệu người (năm 2006), mật độ dân số lên tới 254 người/km² (năm 2006). Trên thế giới chỉ có 4 nước: An Độ, Nhật Bản, Bănglađét, Philippin là có dân số nhiều hơn và mật độ dân số cao hơn nước ta. Trung Quốc mặc dù có 1,3 tỷ dân nhưng mật độ dân số chỉ có 136 người/km².

Trong những năm qua, chất lượng dân số ở nước ta được nâng lên không ngừng nhưng vẫn chưa cao. Tuy Việt Nam có tỷ lệ dân biết chữ và tuổi thọ khá cao, nhưng HDI thuộc loại thấp vì năng suất lao động chưa cao và có tỷ lệ nhập học tổng hợp ở các cấp, kể cả giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp rất thấp, chỉ bằng nửa Ôxtrâylia và đứng thứ 23 trên thế giới. Mặt khác, chỉ có xấp xỉ 25% (năm 2005) lực lượng lao động nước ta có trình độ chuyên môn kỹ thuật (được đào tạo, có cấp bằng). Ngoài ra, tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn cao, khoảng 25%.

Tội phạm, tiêu cực xã hội còn cao cũng ảnh hưởng tới chất lượng dân số. Đặc biệt trong 10 năm, từ 1997-2007, đã phát hiện và bắt giữ tới gần 200.000 đối tượng phạm tội ma túy.

3. Việt Nam một cái nhìn tổng quan về phát triển con người.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong hai thập kỷ qua mang lại kết quả là tỷ lệ nghèo theo thống kê đã giảm rõ rệt. Tỷ lệ nghèo, theo chuẩn nghèo quốc tế, đã giảm từ 58% xuống còn 20% trong giai đoạn 1993-2004. Tuy nhiên, nhiều hộ gia đình mới chỉ vươn lên khỏi nghèo một chút và vì vậy vẫn có nguy cơ tái nghèo.

Song đi đối với kết quả tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tình trạng bất bình đẳng, đặc biệt là khoảng cách ngày càng rộng hơn về mức thu nhập giữa nông thôn và thành thị cũng như mức chênh lệch ngày càng lớn xuất phát từ tình trạng ngăn cách về các mặt địa lý, xã hội, dân tộc và ngôn ngữ. Ba vùng chiếm hơn 2/3 người nghèo Việt Nam là: miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải Bắc Trung Bộ. Các dân tộc thiểu số mặc dù chỉ chiếm gần 14% dân số Việt nam và sống chủ yếu ở các vùng xa xôi, cách trở này nhưng lại có tỷ lệ nghèo quá cao (gần 30% nghèo cả nước). Khoảng 90% dân nghèo sống ở nông thôn. Dân nghèo nông thôn chủ yếu tập trung ở những hộ nông dân có ít ruộng đất, phải trông đợi nguồn tín dụng không chính thức với lãi suất cao, ít được tiếp cận với thị trường nông sản và không có việc làm ngoài nghề nông. Để tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp, đòi hỏi phải tăng cường phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, đồng thời xóa bỏ sự thiên vị, công khai hay ngầm định, dành cho các doanh nghiệp mà nhà nước có nhiều vốn là chủ yếu.

Mặc dù GDP theo đầu người chính thức chỉ đạt hơn 638 USD một chút, song kết quả phát triển con người của Việt Nam là rất khả quan. Điều đó được thể hiện ở sự gia tăng liên tục của chỉ số phát triển con người trong thập kỷ qua và những tiến bộ đạt được trong lĩnh vực giáo dục, y tế và mức sống ở Việt Nam. Trong tổng số 177 nước được xếp hạng về chỉ số phát triển con người trên thế giới, Việt Nam từ vị trí 120 năm 1995, đã tiến lên vị trí 109 năm 2005. Hiện nay, ở Việt Nam, tuổi thọ trung bình là 71,3 và tỷ lệ biết chữ ở người lớn (từ 15 tuổi trở lên) là 90,3%. Tuy nhiên, Việt Nam phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng trong lĩnh vực giáo dục và y tế. Tỷ lệ học hết phổ thông trong số đồng bào dân tộc thiểu số và trẻ em gái vẫn tương đối thấp. Tỷ lệ suy dinh dưỡng vẫn còn cao, đặc biệt ở trẻ em dưới 5 tuổi với 33% số trẻ em trong độ tuổi này thiếu cân. Việt Nam còn phải đối mặt với một số căn bệnh cũ tái phát và mới xuất hiện như bệnh lao và HIV/AIDS, kèm theo những căn bệnh này là kết quả điển hình của lối sống mới và số vụ tai nạn giao thông ngày càng gia tăng. Dịch HIV đang gia tăng nhanh chóng ở Việt Nam. Mỗi ngày lại có thêm hơn 100 người bị nhiễm HIV và số người chung sống với HIV đã tăng gấp đôi trong giai đoạn 2000-2005 (từ khoảng 122.000 lên tới 263.000 người).